Chuyện Niệm Phật Cảm Ứng 3

Lời nói đầu

“Người tu Tịnh nghiệp phải nên thực tiễn. Nếu như tu hành mà không niệm Phật, thì cũng giống như người nói ăn mà không có ăn và người đếm tiền của người khác, không có ích gì cho việc tu hành cả. Nói một trượng không bằng làm một tấc! (nói nhiều không bằng làm ít). Đây là lời của ân sư Bính Công (Lý Bính Nam) thường hay khuyên gắng những người tu học. Ngài (Bính Công) hằng tự tu và hóa độ cho người, hai mươi năm ở tại Đài Trung, ngài hoằng dương chánh pháp chưa từng có một ngày gián đoạn, với tâm Từ Bi khuyên người không biết mệt mỏi, khuyên người chân thật niệm Phật, cầu sanh Tây phương, độ người vô số. Tất cả Sĩ, Nông, Công, Thương cho đến những bà già không biết chữ hoặc những trẻ nhỏ ba tuổi … rất nhiều người đạt được sự lợi ích của niệm Phật.

Hiện nay đang là thời mạt pháp, tà thuyết rối rắm, những người tu học muốn đầy đủ pháp vị tốt đẹp, chỉ có y giáo phụng hành, chuẩn bị tư lương chờ đến kỳ hạn có thể vãng sanh về An Dưỡng (cõi Cực Lạc). Đồng trong loài người, mà có người nhân nơi chí tâm niệm Phật mà có được những cảm ứng kỳ diệu, tiêu tai giải nguy, hoặc có người nhất tâm niệm Phật, khi lâm chung nhờ Phật tiếp dẫn thị hiện những tướng lành. Học nhơn (tôi, lời khiêm xưng của tác giả) không ngại ngu muội vụng về, nghĩ ra nên đem những sự thật cảm ứng không thể nghĩ bàn, chính mình mắt thấy tai nghe trong hơn mười năm trở lại đây, nhất nhất ghi chép lại, để cho những người chưa tin Phật, niệm Phật, sớm biết tin Phật niệm Phật; những người đã tin Phật niệm Phật rồi sẽ càng gắng gỏi nỗ lực hơn, tinh tấn hơn gấp bội; những ai thấy nghe đều được lợi ích trong Phật Pháp. Đây chính là nguyện vọng của bút gia.

Lâm Khán Trị

25 responses to this post.

  1. 49. LÚC GIẢI PHẪU KHOÉT THỊT Ở CÁNH TAY, THẦN THỨC DẠO CHƠI THIÊN ĐƯỜNG

    Mười lăm năm trước, Tấn Lễ – đứa con trai thứ ba (Việt Nam gọi là thứ tư) của liên hữu Chung Chiêm Khoan Phụng mới mười lăm tuổi. Nhà họ ở phía trước rạp hát Quốc Tế đường Phục Hưng. Lúc bấy giờ sư tỷ Khoan Phụng thường dẫn cậu ta đến liên xã lạy Phật nghe pháp. Nhưng đời người tai nạn nhiều. Vào mùa thu năm đó, có một buổi chiều Tấn Lễ đang đứng trước cửa nhà mình, bỗng một chiếc xe tải lớn muốn tránh ba đứa nhỏ đang giỡn ở giữa đường, đột nhiên khẩn cấp quẹo sang bên phải lập tức xông vào Tấn Lễ đang đứng trước cửa. Thật là tai họa từ trời giáng xuống bất ngờ, cái móc trong lòng bánh xe quấn chặt quần áo của nó, lôi nó đi một khoảng hai cột đèn, xe lại thắng không dừng. Lúc đó Tấn Lễ tự nghĩ tánh mạng khó giữ được, trong cơn nguy cấp phát sanh trí huệ, trong miệng nó bỗng nhiên nói vọt ra: “Mẹ con là người tin Phật, xin đức Quán Thế Âm Bồ Tát mau đến cứu con đi!”. Kêu liền ba lần như vậy; nói ra cũng thật kỳ lạ, chiếc xe liền thắng đứng lại, chỉ còn một chút xíu nữa là bị bánh xe cán chết rồi! Nhưng cánh tay trái đã bị xây xát nặng, từ trên khuỷu tay đến bàn tay, máu thịt và cát đá lẫn lộn không phân biệt được. Liền đưa vào bệnh viện tỉnh lập Đài Trung.

    Tấn Lễ tội nghiệp, nhập viện được ba, bốn ngày thì cánh tay đó sưng phù lên đen thui do vì cát đá lẫn lộn vào trong da thịt hơi nhiều, nhứt thời lấy ra không hết, bác sĩ liền nói với Khoan Phụng rằng: “Cánh tay này của con cô phải cưa bỏ mới an toàn, nếu không thì nguy đến tính mạng!”. Khoan Phụng liền thương nghị với bác sĩ rằng: “Tôi xem cánh tay này, ngón tay động đậy được, gân cốt còn tốt không bị thương, hiện giờ chỉ là da thịt bị hư rữa thôi, xin bác sĩ cố gắng giúp cho cháu khỏi bị cưa tay, chỉ khoét da thịt hư rữa đó bỏ đi là được rồi”. Bác sĩ cũng liền theo lời yêu cầu của cô ta, đánh thuốc mê cho Tấn Lễ mê đi, rồi bắt đầu phẫu thuật, khoét đi cả mâm thịt lẫn lộn cát đá. Khoan Phụng thì ở một bên cứ niệm: “Cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát”.

    Cuộc phẫu thuật của Tấn Lễ hoàn thành thuận lợi. Sau khi thuốc mê giã, tỉnh táo trở lại, Tấn Lễ liền nói với mẹ nó rằng: “Má! Con vừa rồi nằm trên bàn mổ, sau khi mất hết tri giác (mê) thì thấy một ông bác sĩ mặc đồ trắng bồng con đến nơi rất là đẹp. Con hỏi ông ta đây là đâu? Ông ta đáp là thiên đường, lại bảo rất nhiều cô gái đẹp nhảy múa cho con xem; con lại hỏi ông ta: những cô gái đẹp này là người ở đâu? Ông ta nói với con là thiên nữ. Má! Con rất là sung sướng, có thể đi đến thiên đường, xem được những cảnh giới nầy”. Sư tỷ Khoan Phụng liền biết đây là sự cảm ứng do cô cố sức niệm Quán Thế Âm Bồ Tát mà được, nhất định là phương tiện khéo léo của Quán Thế Âm Bồ Tát khiến cho tinh thần của Tấn Lễ được an ủi, quên đi sự đau đớn.

    Sư tỷ Khoan Phụng mắt nhìn thấy cánh tay trái của con mình sau khi bị khoét đi một miếng thịt, chỉ còn lại gân và xương khó tránh khỏi đau lòng, lo lắng, nhất là thời gian nuôi con ở bệnh viện, sớm tối không có tụng niệm được, tinh thần cảm thấy không yên. Thế là liền về nhà thỉnh một bức Tây phương Tam Thánh nhỏ, đem vào bệnh viện dán lên trên tường, ngoài hai thời khóa sớm tối ra, cô vẫn cứ thành kính cầu nguyện xin Quán Thế Âm Bồ Tát gia bị cho cánh tay của con trai sớm hồi phục bình thường. Thật là không thể nghĩ bàn, Bồ Tát từ bi, có cầu liền ứng nghiệm. Vào một buổi sáng sớm Tấn Lễ nói với má: “Má! Tối qua con được nhìn thấy toàn thân trang nghiêm của Quán Thế Âm Bồ Tát, tay phải cầm nhành dương, tay trái cầm tịnh bình kêu tên con “Tấn Lễ lại đây!”. Con liền theo ngài cùng đi đến một rừng núi thanh tịnh, con ngồi trên hòn đá, Quán Thế Âm Bồ Tát liền dùng nước thanh tịnh trên nhành dương liễu rải lên cánh tay đau của con, lập tức con nghe mát mẻ dễ chịu vô cùng!”. Tấn Lễ được Bồ Tát dùng nước cam lộ trị liệu vết thương ở cánh tay liên tiếp ba lần cho nên mỗi ngày khi bác sĩ và y tá của bệnh viện đến thay băng đổi thuốc cho nó, nó liền tỏ ra rất sợ hãi, kêu to lên rằng: “Các người thay băng đổi thuốc gì đau muốn chết, tôi không cần các người làm nữa. Quán Thế Âm Bồ Tát lúc trị liệu cho tôi thì lại mát mẻ dễ chịu vô cùng!”. Mỗi ngày lúc thay băng đổi thuốc đều như thế, vừa nói vừa khóc thảm, khiến các bác sĩ và các y tá đều ngơ ngác cười dở khóc dở!

    Thằng bé Tấn Lễ này, do bởi đời trước có nhiều căn lành, đời này có duyên với Phật, Bồ Tát, nhiều lần được pháp lực vô biên hộ trì, cánh tay trái đã dần dần đầy đặn da thịt hồi phục như cũ. Mấy ngày trước khi sắp xuất viện, lúc ngủ trưa bỗng nhiên lại to tiếng kêu lớn lên rằng: “Bồ Tát Địa Tạng, ngài sắp đi đâu vậy? Ngài sắp đi độ yêu nhền nhện hả? Con muốn đi theo ngài xem!”. Sư tỷ Khoan Phụng ngồi bên mình nó, nghe rất là rõ ràng, liền lay nó tỉnh dậy, hỏi nó: “Mới vừa rồi con thấy những gì?”. Tấn Lễ nói “Vừa rồi Bồ Tát Địa Tạng tới thăm con, con hỏi ngài sắp đi đâu? Ngài nói sắp đi độ yêu nhền nhện. Con xin Bồ Tát dẫn con cùng đi, đang đi đến một cánh đồng liền bị má lay tỉnh dậy, thiệt uổng ghê!”.

    Trên đây là Tấn Lễ sau khi bị tai nạn được Bồ Tát cảm ứng ba lần. Đây cũng là chính miệng sư tỷ Khoan Phụng kể với tôi.

  2. 50. NGHIỆP LỰC CẢN TRỞ KHIẾN NHÂN HẾT QUẢ DỨT

    Sư tỷ Trần Kiết ban trưởng ban Bát Nhã có một người em trai tên là Trần Thu Tuyền, nếu còn sống thì năm nay 48 tuổi, nhưng đây là việc của ba năm trước. Sư tỷ nói: Em trai và em dâu của bà không có chút căn lành nào, khuyên tụi nó niệm Phật ngay một câu cũng không chịu niệm. Hai chị em có thể nói là chí không đồng, đạo không hợp, nhưng sức khỏe của nó không được mạnh khỏe, thường bị đau dạ dày, nếu không mổ sớm chắc chắn sống không lâu! Cái ngày quyết định sẽ mổ, sư tỷ Kiết với tâm từ bi cố sức thuyết phục khuyên em mình niệm Thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát và nói về những sự lý trong phẩm Phổ Môn Quán Thế Âm Bồ Tát có nhiều cách tầm thanh cứu khổ, nói cho anh ta nghe, khuyên anh ta phải thành kính niệm Cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát, cầu Bồ Tát gia bị, chuyển nguy thành an.

    Sư tỷ Kiết nói: Buổi tối Thu Tuyền mổ xong lúc nửa đêm, sư tỷ đang ngồi bên em niệm Quán Thế Âm Bồ Tát cho anh ta, thì thấy anh ta đang trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, lẩm bẩm rất lớn: “Bồ Tát Quán Thế Âm, ngài đã lấy khúc ruột hơn một trượng thay cho khúc ruột hư của tôi, xin cám ơn! Xin cám ơn!”. Sư tỷ Kiết và vợ anh ta đều nghe rất rõ ràng. Khi anh ra tỉnh dậy liền nói: “Chị ơi, em nhìn thấy Quán Thế Âm Bồ Tát mặc đồ trắng, cầm một khúc ruột rất dài, mổ bụng của em ra, đổi cái khúc ruột hư đi, em còn hướng về Quán Thế Âm Bồ Tát nói cám ơn liên tục nữa!”. Từ sau khi được mổ, tất cả đều thuận lợi an toàn, sau một tuần lễ thì có thể đi bộ được, bác sĩ cũng rất vui nói: “Người bệnh này rất là nhanh chóng hồi phục, ba tuần thì có thể xuất viện được”. Có rất nhiều bà con bạn bè lăng xăng đến chúc mừng cho anh ta có thể sớm bình phục, thật không gì vui bằng.

    Nhưng thiên hạ vốn vô sự, mà kẻ dung tục thì lại tự quấy nhiễu, chuốc lấy tai họa. Lúc còn khoảng ba ngày nữa xuất viện, thì một người bệnh khác cùng nằm viện nói với vợ anh: “Chồng của chị mới khỏe, cần chất dinh dưỡng, chị cần mua cá tươi về chưng với gừng xắt nhỏ cho chồng chị ăn để bồi bổ thân thể”. Sư tỷ Kiết nghe được lời này, vội vàng ngăn lại nói: “Không được! không được! Em ta là nhờ Quán Thế Âm Bồ Tát thay ruột cho nó, không giống như những người khác, từ đây về sau không được giết hại sinh vật cho nó ăn. Nếu muốn bồi bổ dinh dưỡng thì có thiếu gì, như sữa bột nè, đậu bì, đương quy, sâm Cao Ly,… (các chất bổ trong thuốc Bắc) đều là những dược phẩm có dinh dưỡng phong phú”. Sư tỷ Kiết nói một lô bao nhiêu đồ bổ dưỡng, nhưng “lời thật thì mích lòng”, em dâu nghe rồi, hình như có dáng điệu không lọt tai tí nào, nhưng nể bà chị chồng, mấy ngày sư tỷ Kiết ở bệnh viện, cô ta không dám đi mua cá tươi (cá sống), đợi lúc sư tỷ về nhà tắm, liền chạy ra chợ mua cá, thịt tươi về nấu cho chồng cô ăn, khi sư tỷ Kiết trở lại thì em cô đã ăn hết một tô. Do đây mà sự việc hỏng bét! Trời làm ra điều nghiệt ngã, còn có thể không tuân, tự mình tạo tội nghiệt, không thể sống! Em trai cô ăn tô cá đó xong, ghê gớm giống như uống phải thuốc rầy, bụng bắt đầu đau dữ dội, vết mổ lớn dài một thước (thước Tàu) đã khâu lại như bình thường, chưa đến mấy giờ bắt đầu biến đổi quái lạ, đường khâu bên trong bị toác ra! Sư tỷ Kiết nói: Chính mắt thấy như thế, sợ hãi vô cùng, da bụng banh ra giống như chiếc thuyền độc mộc, sức khỏe biến đổi xấu vô cùng, tính mạng nguy hiểm trong sớm tối, đến bác sĩ cũng bó tay không có cách gì! Sư tỷ tự nghĩ: Thật rất có lỗi với sự gia bị của Quán Thế Âm Bồ Tát, việc thế này, không dám cầu xin lại nữa, liền đổi Thánh hiệu, xưng niệm Địa Tạng Vương Bồ Tát! Mong được Địa Tạng Bồ Tát phò hộ được bình an hồi phục trở lại. Liền vẫn cứ như thế, ở bên cạnh em xưng niệm Thánh hiệu Địa Tạng Bồ Tát. Thật là không thể nghĩ bàn! Thu Tuyền đang trong trạng thái hôn mê, lại thấy cảnh giới, trên mặt bỗng lộ nét vui, lẩm bẩm nói nhỏ, không biết nói những gì? Bỗng nhiên lại nói to lên “Ngài Địa Tạng Bồ Tát à! Ngài dẫn tôi đi chơi cả buổi, rất là vất vả, cây thiết trượng ngài đang cầm trong tay rất nặng, đưa tôi cầm dùm cho ngài được không? Đừng có khách sáo mà, đưa tôi cầm dùm cho ngài đi!”. Vợ anh ta liền hỏi: “Thu Tuyền! Anh nói những gì vậy?”. Anh ta đáp: “Ngài Địa Tạng Bồ Tát muốn dẫn tôi đến một chỗ rất đẹp, tôi đi chơi rất là vui!”.

    Tối hôm đó, lúc sư tỷ như thường lệ niệm Thánh hiệu Địa Tạng Bồ Tát bên cạnh em trai, thì bỗng ở nhà có việc gấp, người nhà đến kêu sư tỷ về nhà. Sáng sớm hôm sau, Thu Tuyền lại tự nhiên nói với đứa con gái: “Ba rất cám ơn cô của con, bây giờ sắp từ giã cô con, ba muốn đến nhà cô con để nói lời cám ơn, nhanh nhanh kêu xe lại cho ba đi”. Nói xong thì… chết! Tội nghiệp một tráng niên mới 45 tuổi đã xong một cuộc đời! Lúc lâm chung thiện tri thức là bà chị cũng không có duyên trợ niệm cho anh ta, giúp cho anh ta có thể đới nghiệp vãng sanh!

    Sư tỷ Trần Kiết nói với tôi đến đây, cảm khái muôn phần nói: “Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát đã thay ruột cho nó rồi, sức khỏe cũng đã bình thường trở lại, tại sao bất hạnh lại gặp cái người biểu ăn cá tươi kia để đến nông nỗi!”. Tôi giải thích rằng: “Người không có căn lành, không tin Phật, không niệm Phật, thì phải chịu nghiệp lực nó kềm chế dẫn dắt, không cách gì đổi lại được. Em trai và em dâu của cô đã không có căn lành, Bồ Tát Quán Âm đã thay ruột cho anh ta, đó là nhờ vào phước đức của cô. Đây là do cô chí tâm cầu niệm Phật cho anh ta mà có được, nhưng trong tàng thức của hai người, họ vẫn còn đầy dẫy những tội chướng nghiệp chủng, vì căn bản thường ngày, ngay cả một câu Thánh hiệu của Phật, Bồ Tát cũng không có niệm, một khi mạng chung, lúc chủng tử ác nghiệp khởi hiện hành, tướng luân hồi lục đạo hiện ra, nói đi liền đi, không được chần chờ! Em của cô lúc cuối cùng được kết duyên lành với Địa Tạng Bồ Tát, cũng là sự cảm ứng do cô xưng niệm Thánh hiệu Bồ Tát, van cầu Bồ Tát cứu anh ta, nhưng vì cô tối đó có việc phải về nhà, đây chính là chướng ngại của anh ta, không có duyên xưng niệm liên tục, nhân hết thì quả dứt, đâu còn nhờ vào đâu giúp đỡ vãng sanh Tây phương nữa chứ? Nhưng mà gặp được Địa Tạng Bồ Tát nắm tay dắt đi, tính ra cũng là đại hạnh trong bất hạnh!”.

  3. 51. VỢ CHỒNG THỔ ĐỊA QUY Y TAM BẢO

    Lại nói về chuyện của sư tỷ Trần Kiết, tám năm trước có một ngôi chùa ở vùng ngoại ô của Đài Trung, năm đó vẫn chưa có một sư phụ xuất gia nào đến ở, tuy nhiên những tín đồ tới lui lễ bái cũng khá đông. Sư tỷ Trần Kiết liền phát đại từ bi tâm, mỗi khi đến ngày mùng 1 và rằm (15) thì đến quét dọn sạch sẽ chánh điện và dạy người niệm A Di Đà Phật, cố gắng hết sức bổn phận của người đệ tử Tam Bảo là lợi mình lợi người. Sư tỷ có tinh thần đại bi như thế, do đó mà rốt cuộc có thể cảm hóa và giới thiệu thần thổ địa quy y Tam Bảo. Xin mời quý vị xem chuyện sau đây:

    Ở gần ngôi chùa đó có một cái miếu thổ địa, do vì lâu năm không có sửa sang, đã hư cũ rất nhiều, cho nên những thiện tín ở vùng đó họp lại bàn, kết quả là quyết định dở bỏ cái cũ, xây dựng cái mới. Nhưng sau khi bốc dở miếu cũ ra thì có hai tượng thổ địa ông và thổ địa bà phải dời đi đâu? Nhất định phải tìm một chỗ để thờ phụng tạm thời. Có một người bàn: “Nhờ một chùa nào đó để thờ tạm, đợi xây cất xong lại thỉnh trở về. Như thế há chẳng phải là lưỡng toàn kỳ mỹ ư?”. Mọi người đều vui vẻ tán thành biện pháp đó, sau khi lấy biểu quyết xong, liền theo đó mà làm.

    Nhưng tập quán lễ bái thổ địa từ nào đến giờ của địa phương đó là vào ngày mùng 2 và 16 đều dùng tam sanh (ba thứ thịt bò, dê, heo) và rượu để lễ bái. Hiện giờ thần thổ địa đã tạm thời dời vào trên bàn thờ trong giảng đường của chùa, những người tin và cúng thổ địa lâu nay vẫn khó sửa đổi được tập quán của họ. Sư tỷ Kiết nhìn thấy người ta mang theo những thức ăn tanh (đồ mặn) như thế ra vào cửa Tam Bảo, mặc dù là không phải đem đi cúng Phật, Bồ Tát, nhưng cũng rất là xốn mắt. Có một hôm sư tỷ đến chùa, lúc quét dọn giảng đường, liền đối với tượng thổ địa nói: “Ông thổ địa! Bà thổ địa! Các vị có lẽ đời trước không được nghe Phật pháp cho nên không biết những điều hay tốt của việc quy y Tam Bảo và việc tin Phật, học Phật, niệm Phật. Các vị hiện nay mặc dù làm thần, được người ta sát sanh hại vật, dùng những rượu thịt tanh hôi đó đến cúng cho các vị ăn, các vị cũng không biết là mình đã tạo tội, các vị không biết thời hạn làm thần một khi hết thì vẫn phải đi theo con đường luân hồi lục đạo, một mai đọa vào tam đồ thọ khổ, đến lúc đó hối hận thì đã không kịp! Vợ chồng già các vị nếu có thể đồng tu, quy y Tam Bảo, niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây phương Cực lạc thế giới, tức là đạt được con đường giải thoát sinh tử, lìa khổ được vui một cách rốt ráo vậy”.

    Trần sư tỷ từ hôm dùng phương tiện ngữ khí nửa như hơi đùa nói với thần thổ địa xong về nhà thì sức khỏe có hơi lạ, như bệnh như không! Như thế kéo dài sáu tháng, Đông Tây y đều tìm không ra gốc bệnh. May mà sư tỷ có người con dâu lớn rất thông minh, bất giác nói: “Má à! con xem bệnh của má rất lạ, không hiểu má nói chuyện ở ngoài có mắc lỗi với quỷ thần không?”. Sư tỷ nghĩ tới nghĩ lui, nhớ được ngày hôm đó, cả lô cả lốc lời nói với thần thổ địa, nói ra cho con dâu nghe. Con dâu rất thông minh, lập tức nói: “Đúng rồi! Má độ người phải độ cho tới nơi tới chốn, má đã chỉ điểm cho họ quy y, lại vẫn chưa có giới thiệu sư phụ cho họ, chỉ nói lời trống rỗng, họ nghe má nói nhất định cũng lọt tai, nhưng muốn má hướng dẫn giới thiệu, cho nên đến tìm má quấy rối”.

    Trần Kiết nghe con dâu nói có lý, chẳng kể đúng hay không, cũng đều phải trở lại chùa đó lo việc quy y cho thần thổ địa. Không đến mấy ngày, sức khỏe của sư tỷ đã bớt rất nhiều, liền đi đến chùa, thật là pháp duyên thuận lợi, có một vị đại pháp sư mới đến chùa (nhận trụ trì) sư tỷ liền nói rõ ý mình đến đây hôm nay, đem cái việc quy y này ra thỉnh giáo pháp sư. Pháp sư rất từ bi luôn miệng nhận lời. Sư tỷ liền chuẩn bị nghi thức sắm sửa hương hoa quả phẩm v.v… Lúc bấy giờ liền đem tượng thần của thổ địa ông, thổ địa bà ra nhờ sư tỷ Trần Kiết, tay trái bưng tượng thổ địa ông, tay phải bưng tượng thổ địa bà quỳ trước Phật lãnh thọ pháp quy y và thay họ làm các nghi thức lễ bái cho đến xong. Pháp sư còn thuyết pháp cho họ nghe rất lâu. Sau khi hoàn tất, sư tỷ liền hướng vào thần thổ địa nói rằng: “Hôm nay các vị đã quy y Tam Bảo Phật Pháp Tăng rồi, là đệ tử chính thức của Tam Bảo, nhất định phải ủng hộ Phật giáo, làm nên thành pháp vương và phải niệm Thánh hiệu A Di Đà Phật, cầu sanh Tây phương, về sau không còn can hệ gì với tôi, không được trở lại tìm tôi quấy phá”. Sự thật trên đây là hồi năm ngoái sư tỷ đến Hội Liên Nghị nói với tôi.

    Theo dân gian nước ta (Trung Quốc) các vùng nông thôn nghèo hoang vắng khắp nước ở đâu cũng đều có miếu thổ địa, họ như thân phận của vị trưởng thôn trong làng ở nhơn gian, niên hạn đến, mãn nhiệm kỳ, vẫn cứ phải đi luân hồi đầu thai, khó có thể gặp được duyên lành quy y Tam Bảo. Mặc dù thần thổ địa chưa có mở miệng yêu cầu được quy y, nhưng sư tỷ Trần Kiết với một tấm lòng lành cũng thật khiến người khâm kính!

  4. 52. CÔ DÂU NIỆM PHẬT, LẬT XE ĐƯỢC VÔ SỰ

    Tục ngữ nói: “Nhà muốn hưng thịnh nhìn xem con cháu”. Trong Phật giáo cũng thế, nếu muốn Phật pháp hưng long, nhất định nhờ vào lớp thanh niên phát tâm học Phật, đây là cùng một đạo lý. Gần đây “Giác Uyển học xã” của Hoằng Quang Hộ Chuyên thành lập ở Sa Lộc tiếng tăm thật vang dội. Nên biết học xã này với hơn một trăm học viên là do hai cô nương trẻ 17 tuổi, không ngại gian khổ, với tâm từ bi khuyên gọi vận động, dũng cảm tổ chức mà thành tựu được. Tinh thần vĩ đại của họ, khiến người bội phục sát đất. Hai vị tiểu cô nương phát tâm đại bi này là tiểu thơ của nhà ai vậy? Thì ra là thiên kim tiểu thơ Úc Thanh, con của ông Vương Diệu Dân trưởng phòng hành chánh của nhà máy đường ở Tân Dinh, vị kia là cô Kim Chi bạn học của Úc Thanh.

    Nhớ lại 12 năm trước lúc tôi cùng với đại tỷ Lữ Chánh Lương đến Đại thừa tịnh xá của ông trưởng phòng hành chánh dạy người niệm Phật, cô gái này mới có năm tuổi. Mười năm trước, Vương cư sĩ chuyển đến làm việc ở nhà máy Đài Đông, Vương phu nhân Nhan Gia Hanh là một người đàn bà rất giỏi giang lanh lợi, vừa đến Đài Đông liền cùng với một số người như cư sĩ Trần Ngọc Phương v.v… đồng kiến lập một liên xã, cũng từng có mời tôi đến chơi. Nhưng bảy năm trước đây lại chuyển đến làm ở nhà máy đường Long Nham, vợ chồng họ Vương lại tổ chức một hội niệm Phật ở vùng đó, lại một lần nữa hẹn tôi đến đó tùy hỷ công đức, đồng thời kết pháp duyên (giảng pháp). Bậc làm cha mẹ mà phát tâm lớn như thế, nên trong tâm linh nhỏ bé của Úc Thanh nhờ nghe được chánh pháp mà trồng được căn lành.

    Thời gian như nước chảy, trong nháy mắt vào một ngày ba tháng trước, một cô học sinh đứng đắn lịch sự dáng thanh mảnh đi đến hội liên nghị của liên xã, lúc cô kêu lên “sư cô Khán Trị”, tôi nhứt thời nhớ không ra là ai, cô ta lúc đó mới nói: “Con là con gái của bà Vương ở nhà máy đường ở Tân Dinh nè!”. Cô ta do vì mong muốn thành lập một xã đoàn nghiên cứu Phật học ở trong trường, muốn tôi giúp đỡ, thì ra hiện cô đang học ở Hoằng Quang Hộ Chuyên.

    Tôi sau khi nghe được tin tức này, thật là vui mừng hớn hở, lập tức giới thiệu cho cô ta mấy người bạn học ở Trí Hải học xã của trường đại học Trung Hưng, sẽ chỉ dẫn cho họ những gì nên làm khi thành lập Học Xã và phải làm như thế nào … Nhưng tôi vì tâm hiếu kỳ nên hỏi cô ta: “Tuổi tác như thế này của cô (ý nói quá trẻ) mà đã phát tâm như thế, cô biết được những điều hay tốt của việc học Phật, niệm Phật không? Úc Thanh đáp: “Con đã từng tận mắt thấy hai lần niệm Phật được cảm ứng, lại thường xem tờ nguyệt san Cây Bồ Đề (giống báo Giác Ngộ ở VN). Con nghĩ: Nếu muốn được tốt đẹp trong đời người ở hiện tại và có thể lìa khổ được vui trong đời sau, nhất định phải học Phật và niệm Phật”.

    Tôi liền hỏi cô ta: “Hai lần cảm ứng cô đã được thấy, có thể nói cho tôi nghe được không?”. Úc Thanh liền nói: “Lúc ba má con ở nhà máy đường Long Nham có lập một niệm Phật đường nhỏ, các vị liên hữu vào hai thời khóa sớm tối đều không hề có gián đoạn. Lúc bấy giờ có một vị liên hữu tên Ấu hai mươi tuổi. Hôm đó đúng vào ngày cô xuất giá, nhưng buổi sáng cô vẫn cứ đến niệm Phật đường niệm Phật thời khóa sáng, khóa lễ xong cô mới đi sắm vai cô dâu, sau đó theo chàng rể, bà mối đến rước dâu về nhà chồng. Ba người đó tính cả tài xế là bốn người ngồi một chiếc xe con (xe bốn chỗ), nguyên là cô Ấu được gả cho một vị giáo sư ở Đàm Tử quốc hiệu (trường cấp quốc gia). Mấy chục vị liên hữu chúng tôi đi đưa cô dâu cũng ngồi một chiếc xe giao thông (như xe đò) đi đến Đàm Tử, mọi người đều rất vui, suốt đường ca bài “Lô Hương Tán”, bất giác đã đến Viên Lâm. Hôm đó đúng là ngày tốt hoàng đạo nhưng ông trời lại không làm tốt mà lại đổ mưa! Xe đến Viên Lâm gần một ngôi trường làng, do vì mưa đường trơn, xe cô dâu đột nhiên bị lật nhào, bốn bánh quay lên trời, xe lật chỏng gọng bên đường lộ. Các vị liên hữu chúng tôi trên xe giao thông phía sau vừa thấy ai nấy đều kinh sợ thất sắc! Nhưng trong nháy mắt, chú rể, cô dâu, tài xế, bà mối từ cửa xe chun ra từng người một, mọi người nhìn nhau, xem xét kỹ, bốn người đều không có bị thương gì cả, thật là không thể nghĩ bàn, ngay cả kiếng trên cửa xe cũng không có bể miếng nào.

    Nhưng mà xe của cô dâu, bốn bánh quay lên trời làm sao bây giờ? Bỗng có mấy người dân làng đi ngang qua đó, những người dân làng đó mỗi người đều cầm một cái cây để gánh đồ, liền tự động đến giúp, lật chiếc xe cô dâu lại. Tài xế xem xét kỹ lưỡng lại máy móc xe cũng không có hư chút gì hết, chú rể, cô dâu, bà mối, lại cứ y như cũ ngồi lại chỗ của mình, xe bình an đưa đến nhà chú rể ở Đàm Tử, mọi người đều chúc phúc cho cô dâu sẽ có phước về sau. Cô dâu nói: “Tôi ngồi trên xe trong lòng cứ niệm Phật miết!”. Úc Thanh lại nói “Đây là việc chính mắt con nhìn thấy, vì con và má cũng có tham dự trong đoàn đưa dâu này”

    Úc Thanh nói tới đây, tôi liền hỏi tiếp cô ta còn một chuyện cảm ứng nữa thế nào? Úc Thanh lại nói: “Hiện nay ở gần nhà con có một ngôi chùa, má con thường đi lạy Phật, còn giảng chút chút về những điều hay tốt của việc tin Phật, niệm Phật cho người ta nghe nữa, và lấy nguyệt san Cây Bồ Đề cho người ta xem, khuyên người ta niệm A Di Đà Phật. Trong những người nghe đó có một ông bác già, nghe xong cảm thấy rất có đạo lý, chẳng những tự thân ông niệm Phật rất cung kính mà còn khuyên cả bà con trong thân thuộc đều niệm Phật. Ông có một cô cháu gái mới mười sáu tuổi, được sự hun đúùc của ông nội, cũng rất cung kính niệm Phật; người con gái này hồi năm ngoái học năm thứ hai Trung học, có một hôm sáng sớm lúc cô cỡi xe đạp đi học, muốn chạy qua một cây cầu hẹp, cô gái đó nhìn trước nhìn sau chỉ có một chiếc xe taxi chạy qua, cô liền an tâm cũng chạy qua, bất ngờ phía trước có một chiếc xe tải nặng chạy lại nhanh như giông như gió, ở trong cây cầu hẹp muôn phần nguy hiểm. Lúc đó, tiến thối lưỡng nan, cô bị kẹt cứng giữa hai chiếc xe, thật là cái chết trước mắt, may mắn là lúc bình thường niệm Phật, nên lập tức nghĩ tới danh hiệu Phật, liền to tiếng niệm A Di Đà Phật. Lúc đó chiếc xe đạp của cô đã bị chiếc xe tải nặng cán gãy nát, cô cũng bị xe tải lôi đi đến mấy chục thước (thước Tàu) mới ngừng lại. Lúc đó những người thấy cái thảm trạng đó, cho là cô kia đã bị thịt nát xương tan, nhứt định chết rồi. Không ngờ lúc chiếc xe ngừng lại, cô gái kia đã trở mình đứng dậy, tự xem kỹ lại mình, chẳng những không có gãy xương, ngay cả máu cũng không có chảy giọt nào, chỉ có hơi bị xây xát trên cánh tay mà thôi”.

    Câu chuyện sự thật trên đây có thể nói là một kỳ tích! Niệm Phật có thể được tiêu tai khỏi nguy như thế, việc lớn thành nhỏ, việc nhỏ thành không, thật là không thể nghĩ bàn.

    Có rất nhiều người nói tin Phật, lạy Phật là được rồi, cần gì phải niệm Phật? Lời nói này có lỗi rất lớn, nên biết Phật pháp là tâm pháp, vạn pháp duy tâm. Trong tâm niệm Phật, tâm được thanh tịnh; tâm không niệm Phật thì là niệm ngũ dục, lục trần, tâm sẽ vẩn đục. Tâm nếu bất tịnh, thì làm sao có thể cảm ứng được? Như nước đục trong ao, làm sao có thể chiếu hiện được cảnh vật và trăng sáng trên trời trong mặt nước? Nếu nước trong ao lắng trong thì tự nhiên cảnh vật và trăng sáng trên trời đều hiện rõ ràng trong nước, đây là cái đạo lý cảm ứng, sự và lý không khác, cho nên muốn có cảm ứng, nhất định phải niệm Phật nhiều!

  5. 53. SÁT SANH PHẢI BỊ QUẢ BÁO ĐOẢN MẠNG

    Bậc cổ đức nói: “Tâm có thể tạo nghiệp, tâm có thể chuyển nghiệp. Nghiệp do tâm tạo, nghiệp do tâm chuyển”. Mấy câu này đọc ra nghe giản đơn, giảng lại không phải là chuyện dễ. “Tâm tạo nghiệp như thế nào?”, “Tâm lại chuyển nghiệp như thế nào?”. Xin cử ra mấy câu chuyện thật dưới đây để làm thuyết minh.

    Vào trung tuần tháng 2 năm ngoái có một vị đồng tu trong ban niệm Phật rất thành khẩn tên là Khoan Kim ở đường Hồ Bắc trong thành phố này, đã sáu mươi tám tuổi. Có một hôm bà ta đến hội Liên nghị, nói với tôi: “Đời người ở cõi thế, lúc chưa học Phật, mê hoặc điên đảo, thường tạo tội tạo nghiệp nhưng lại không biết là khởi tâm động niệm suốt ngày tạo tội tạo nghiệp. Từ sau khi niệm Phật nghe pháp mới biết đạo lý: “Nghiệp do tâm tạo, nghiệp theo tâm chuyển”. Tôi liền hỏi bà ta: “Bà làm thế nào mà giác ngộ được đạo lý vi diệu của hai câu này?”. Sư tỷ Khoan Kim liền nói lại chuyện cũ hai mươi năm trước, lúc bà còn ở dưới quê: Ngô Thê.

    Bà có ba đứa con trai, năm đó đứa con thứ hai đã hai mươi tuổi. Một buổi sáng sớm, người con thứ hai đi ra ngoài tản bộ, lúc trở về vui mừng hớn hở, hai tay cầm một con cá hồng giãy đành đạch, dài khoảng một thước (thước Tàu) rất phấn khởi nói với tôi: “Má! Con cá này con bắt được trong con rạch cạn, má mau mau chưng gừng cho con ăn đi”.

    Tập khí của phàm phu thường cho là được ăn những con vật còn tươi sống là có phước của cái miệng, không biết rằng một bước sa chân để hận ngàn đời! Người con thứ hai từ sau khi ăn con cá tươi sống đó, tối đêm ấy nằm mộng thấy một cô gái mặc áo hồng khoảng mười bảy, mười tám tuổi, cầu hôn với anh ta rằng: “Anh đã chịu nhận lời kết thân với tôi, tôi phải kết hôn với anh”. Từ đó về sau, đêm nào hồn cô gái đó cũng đến quấy rầy, người con thứ hai liền bị bệnh không dậy nổi, các thầy thuốc Đông, Tây y đều bó tay không có cách gì, thuốc men không hiệu quả, chưa đầy mười ngày, tội nghiệp cho tuổi hoa niên mới hai mươi, rốt cuộc bị đoản mạng!

    Sư tỷ Khoan Kim nhớ lại thảm cảnh về cái chết của đứa con thứ hai lúc bấy giờ, rất đau lòng nói: “Tội nghiệp sống ở quê hương còn nghèo nàn hoang vắng, không có thiện tri thức tuyên dương chánh pháp cho nên ngu si quá đỗi, không biết sát sanh phải bị quả báo đoản mạng, cho nên không biết dạy con phóng sanh cho con cá kia, đừng ăn thịt nó, thì đâu có kết oán với con quỷ nữ kia, bị nó dắt đi trong ba đường ác, chịu đau khổ lớn. Hành vi hồ đồ này chính là nghiệp do tâm mình tạo ra, do bởi trước kia chưa nghe Phật pháp, sát sanh hại mạng, tạo ra ác nghiệp này, nên chính tôi phải chịu báo ứng mất con!”.

  6. 54. DÁT VÀNG TRANG NGHIÊM TƯỢNG PHẬT, LỬA NHẢY QUA KHỎI NHÀ

    Sư tỷ Khoan Kim là một người có đầy đủ căn lành từ kiếp trước, từ lúc mất con, quá đau buồn, liền tính kế dời chỗ ở, thay đổi hoàn cảnh, cho nên mười tám năm trước, lưu con trai trưởng ở lại quê, quản lý tài sản, mình thì dẫn đứa con thứ ba là Tấn Truyền dời đến ở xứ Hạn Khê ở Đài Trung, mướn nhà ở. Hai mẹ con nương nhau mà sống, tự lực cánh sinh, đến một nhà máy giày dép cao su làm thuê để sống, không bao lâu liền cùng với những vị liên hữu của vùng Hạn Khê, mỗi thứ hai cùng đến liên xã niệm Phật, thứ bảy cũng đến liên xã nghe kinh, làm một vị đệ tử Tam Bảo rất cung kính.

    Có một hôm vào buổi chiều, sư tỷ từ nhà máy đi về nhà. Trên đường đi ngang qua cửa nhà của một cô gái ở vùng đó tên là Kê Thỉ, nhìn thấy đứa con nhỏ của cô ta trong tay cầm một tượng Quán Thế Âm Bồ Tát chơi dưới đất. Sư tỷ nhìn thấy, rất không nhẫn tâm, lập tức tìm mẹ nó nói: “Kê Thỉ, cô không nên tạo tội, tại sao lại để con nít giỡn chơi Thánh tượng Bồ Tát như thế? Như vậy sẽ tạo ra tội nghiệp rất lớn!”. Kê Thỉ liền đó trả lời sư tỷ rằng: “Đây là tượng mà mẹ chồng tôi hồi còn sống thờ cúng, tôi là người không có tin và lạy khúc gỗ đó đâu, tôi không cần, bà cần thì bà lấy đi là được rồi”. Sư tỷ Khoan Kim hớn hở ra mặt, thỉnh qua xem thì là một tượng Bồ Tát cao sáu, bảy tấc (Tàu) khắc bằng cây, mặt mũi đã hư hết, liền thỉnh tượng đó đến cửa hàng làm tượng Phật, dùng hơn 100 đồng dát vàng cho tượng Bồ Tát, rồi an vị trong nhà thờ cúng, sớm tối lễ bái cung kính, xưng niệm Thánh hiệu Bồ Tát, thật là pháp hỷ sung mãn, tâm không rời Phật, Phật không rời tâm. Tôi liền hỏi thêm sư tỷ: “Còn người nữ không có căn lành kia hiện thế nào rồi?”. Sư tỷ nói: “Tội nghiệp người nữ tên hợp với đời thực này (Kê Thỉ tức là cứt gà) không bao lâu của cải tán thất, người không biết hiện giờ dời đi ở xứ nào rồi?”. Tôi nghĩ: Đây là một sự thật do vì ngu si không biết mà tạo nghiệp, nên chịu lấy ác báo.

    Qua hơn một năm, một hôm lúc sư tỷ làm việc ở công xưởng, bỗng có một người hớt hải đến nói rằng: “Bà ơi, Bà! nhà gần bên nhà của bà bị cháy, hiện lửa lớn đang cháy lan sắp sửa cháy nhà của bà rồi”. Sư tỷ vừa nghe thật là hồn phi phách tán, vội vã chạy về nhà, trên đường bị té một cái, vừa bò dậy lại bị té nữa nhưng trong miệng của bà vẫn cứ niệm riết “Quán Thế Âm Bồ Tát”, thầm khấn Bồ Tát cứu khổ cứu nạn, may sao gặp một người đàn ông chạy xe đạp, xem thấy bà đáng thương như thế, hỏi rõ tình hình, liền dùng xe đạp chở đưa sư tỷ về nhà. Vừa đến nhà vừa xem thật là không thể ngờ, tại sao lửa biết nhảy qua khỏi nhà mình? Những nhà bên trái, bên phải đều bị lửa cháy thành tro, mà nhà của mình chính giữa lại còn nguyên? Nhiều người xúm lại chúc phúc cho sư tỷ, nói nhờ sư tỷ cung kính lạy Phật, Bồ Tát mà được cảm ứng. Điều kỳ lạ nhứt là mọi người đều nói: “Cửa của nhà bà khóa lại, tại sao lại có khói trắng thơm phức từng lọn từng lọn bay ra từ trong khe cửa, mọi người chúng tôi từ sanh ra đến giờ đều chưa từng ngửi qua mùi thơm nào như thế”. Sư tỷ nói: “Đây nhứt định là kỳ tích của Quán Thế Âm Bồ Tát hiển thị”. Câu chuyện trên đây là một trong những chuyện cảm ứng mà sư tỷ Khoan Kim do niệm Phật được chuyển nghiệp.

  7. 55. CHUYỆN CẢM ỨNG CHUYỂN NGHIỆP KỲ DIỆU NHẤT

    Sư tỷ Khoan Kim từ sau khi thoát khỏi nạn hỏa tai, càng cung kính tin Phật niệm Phật hơn, và gặp ai cũng tuyên dương sự linh cảm của Phật, Bồ Tát. Nhưng người con thứ ba đã đến tuổi đi lính phải phục vụ trong quân đội ba năm, cuộc sống của bà liền trở thành vấn đề khó xử. Không biết như thế nào mới tốt đây? Sư tỷ liền khẩn thiết van cầu Quán Thế Âm Bồ Tát một cách rất là cung kính rằng: “Tín nữ Khoan Kim xưa kia ngu si không biết về nhân quả báo ứng, đã tạo ra rất nhiều ác nghiệp, cho nên tai nạn, khổ nguy trùng trùng, hiện nay được nghe chánh pháp, rất cảm tạ Phật, Bồ Tát đã phò hộ con được sống bình an qua ngày. Nhưng giờ đây cầu xin Phật, Bồ Tát giúp cho con một việc: Xin giúp con tìm được một việc làm có tiền lương cao một chút do vì hiện nay tiền lương ở nhà máy giày dép cao su một ngày chỉ có 5 đồng, con trai của con sắp vào lính ba năm, cuộc sống ngày ba bữa trong ba năm này của con sẽ phải khó khăn. Đệ tử tự biết đây là một yêu cầu gần như vô lý với Phật, Bồ Tát nhưng vì tín nữ đã hơn năm mươi tuổi, lại không biết chữ, tự mình đi tìm việc rất khó, dám xin Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn tìm cách giúp con giải quyết vấn đề sinh sống trong ba năm này”. Sư tỷ sớm tối đều cầu xin như thế. Quán Thế Âm Bồ Tát thật là linh nghiệm vô cùng, không phụ sự cầu xin của người chí thành. Có một đêm, sư tỷ bỗng nhiên nằm mộng thấy một cô gái khoảng mười lăm, mười sáu tuổi nói với bà: “Khoan Kim! Bà muốn có một công việc tốt, sáng mai lúc cầm hộp cơm đi làm, phải đi đường nhỏ không được đi đường lớn, sẽ có quý nhơn giúp đỡ cho bà”. Nói xong thì biến mất. Sáng hôm sau, lúc sư tỷ mang hộp cơm ra cửa, nhớ lại cảnh trong mộng đêm trước, nửa tin nửa ngờ. Nguyên là mỗi ngày đi ra khỏi nhà đều đi theo đường lớn, nhưng hôm nay đổi hướng đi đường nhỏ thử xem. Đi được nửa đường thì ở bên bờ tường của một ngôi nhà cao cấp có một cô gái cười cười đến hỏi bà: “Bà tên là Khoan Kim muốn đi đến hãng giày dép cao su làm phải không? Bà vội vàng đáp phải, nhưng trong lòng lại rất lấy làm lạ: cô gái làm sao lại biết rõ thế? Cô gái lại nói: “Chủ tịch Hội đồng Quản trị của chúng tôi sáng sớm kêu tôi đợi bà ở đây, ông ta mời bà vào trong có chuyện muốn nói với bà”.

    Sư tỷ Khoan Kim lúc đó trong lòng vô cùng ngạc nhiên đi theo cô gái vào trong. Ông Chủ tịch Hội đồng Quản trị hỏi bà một cách rất thân tình: “Bà tên là Khoan Kim, con trai bà sắp vào lính ba năm, cho nên bà muốn tìm một chỗ làm có lương tương đối khá phải không?”. Bà liền đáp phải. Ông Chủ tịch lại nói: “Nhà máy của chúng tôi có một cô nhân viên làm tạp vụ, chuyên lo về công việc nấu nước pha trà, nhưng cô này lại để móng tay quá dài, lại sơn đỏ chót, cho nên bình trà, chung trà, mâm đều rất dơ, tại cô ta sợ gãy móng tay, cho nên rửa cái gì cũng không sạch. Bây giờ cần đổi người khác, chỉ cần hàng ngày rửa sạch những dụng cụ uống trà là được rồi, mời bà đến đảm nhiệm công việc. Thế nào? Lương mỗi tháng là 450 đồng, cuối năm lại thưởng một tháng lương nữa”. Sư tỷ nghe ông Chủ tịch nói thao thao một hồi, vui mừng vô cùng nói: “Cám ơn ông Chủ tịch rất nhiều có lòng tốt giúp đỡ”

    Sư tỷ Khoan Kim từ lúc bỏ nơi làm việc mỗi ngày 5 đồng chuyển vào nơi tiền lương mỗi tháng 450 đồng, bà làm việc rất chăm chỉ. Nhưng trào lưu của thời thế những hãng xưởng lớn mà mướn mấy bà già làm nhân viên tạp vụ như thế rất là ít có, cho nên trong xưởng có một số viên chức mắt nhìn thấy một bà già bưng trà đi ra đi vô ở văn phòng có hơi ngứa mắt, liền nửa đùa nửa thật kiến nghị với ông Chủ tịch rằng: “Thưa ông Chủ tịch! Ông mướn bà già này bưng trà, thật không hay chút nào!”. Có người còn nói xen vào: “Thưa ông Chủ tịch! Nếu như không tìm được người trẻ tuổi, tôi ngày mai lập tức dẫn đến một cô vừa thông minh vừa lanh lợi đến thay thế cho”.

    Ông Chủ tịch vội vàng nói: “Không được! Không được! Việc này xin các anh tha cho, do vì tôi đã hứa với Quán Thế Âm Bồ Tát rồi, Bồ Tát kêu tôi giúp bà ta ba năm”. Lúc đó mọi người trong văn phòng đều cười rộ lên, cho là ông Chủ tịch nói chuyện thần thoại, liền hỏi ông ta: “Bồ Tát làm thế nào ước hẹn với ông bảo ông giúp cho bà già này ba năm chớ?”.

    Ông Chủ tịch liền nói với mọi người rằng: “Bà Khoan Kim này không phải là bà con của tôi, tôi lại cũng không có quen biết bà, không tin thì các người hỏi bà ta xem lập tức có thể chứng minh. Do vì cái đêm trước mời bà ta lại làm, tôi chiêm bao mơ mơ màng màng, nhìn thấy một cô gái khoảng mười sáu tuổi, cô ta nói với tôi cô là Quán Thế Âm Bồ Tát hóa thân đến nhờ tôi, do vì có một tín nữ lớn tuổi rất thành khẩn với Phật pháp, con trai của bà ta sắp đi lính ba năm, cho nên cuộc sống gặp khó khăn, yêu cầu tôi thuê dùng ba năm, trong thời gian đó, nếu như có người phản đối, ông cũng không được nản lòng, giúp ba năm đến nơi đến chốn. Lúc bấy giờ tôi liền hỏi cô gái đó rằng: “Vị lão tín nữ đó tôi lại không quen biết bà ta, làm sao đây?”. Cô gái đó lại nói: “Lão tín nữ tên là Khoan Kim, hơn 7 giờ sáng mai, trong tay cầm hộp cơm đi đến làm ở nhà máy giày dép cao su, sẽ đi ngang qua cửa nhà của ông, ông chỉ cần phái người theo giờ đó đứng đón ngoài cửa là được rồi”. Nói đến đây thì cô gái biến mất.

    Lúc đó sư tỷ Khoan Kim nói với mọi người: “Thì ra là lòng từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát, chẳng những báo mộng cho ông Chủ tịch, đồng thời cũng chỉ điểm cho tôi, kêu tôi lúc đi làm buổi sáng, không được đi đường lớn mà đi theo đường nhỏ sẽ có quý nhơn giúp đỡ, không ngờ thật sự gặp được nhân duyên đặc biệt này. Hồi lúc trước ông Chủ tịch kêu vào làm một cách thân tình như thế, trong bụng tôi hết sức hoang mang: ông Chủ tịch làm sao biết tôi rõ như thế?… Qua lần giải thích đó mới biết là lòng đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn của Quán Thế Âm Bồ Tát đã giải quyết dùm cho tôi. Thật là Phật pháp vô biên không thể nghĩ bàn!”. Sư tỷ cảm động nói: “Từ hôm đó, sau khi ông Chủ tịch giải thích chuyện kỳ diệu không thể nghĩ bàn, trong ba năm trời, không còn người nào nói ra nói vào gì nữa”. Chuyện kể tới đây, tôi liền hỏi sư tỷ: “Ông Chủ tịch đó là ai, tên họ là gì?”, sư tỷ nói: “Ông ta họ Trương tên Kiết, ông là Chủ tịch Hội đồng Quản trị của nhà máy bột mì Quảng Nguyên. Trên đây hoàn toàn là sự thật. Đây là chuyện cảm ứng chuyển nghiệp thứ hai của sư tỷ Khoan Kim do niệm Phật mà được.

  8. 56. NIỆM PHẬT CHUYỂN NGHIỆP ĐƯỢC HƯỞNG THỌ PHƯỚC BÁO

    Phật là bậc đạo sư của ba cõi, cha lành trong bốn loài. Những người quy hướng tin theo diệt được tội như cát sông Hằng; những người xưng niệm được phước vô lượng. Lại nói về Tấn Truyền, người con trai thứ ba của sư tỷ Khoan Kim, từ khi nhận được sự hun đúc của mẹ thì tin sâu Phật pháp, hiểu rõ những điều hay tốt của việc niệm Phật, niệm Bồ Tát, cho nên sau khi nhập ngũ huấn luyện, nghiêm thủ quy luật của quân đội, thời gian rảnh liền niệm Thánh hiệu A Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát, thường được nhờ Phật, Bồ Tát từ bi gia hộ, như có lúc đang bơi, trong hư không trên đỉnh đầu từng thấy Bạch y Đại sĩ (Quán Thế Âm Bồ Tát ) hóa hiện, nói ra thật khiến người khó tin.

    Thời gian thật là nhanh, thời hạn Tấn Truyền phục dịch ba năm trong quân đội đã mãn, được về quê. Người thanh niên chịu sự giáo dục huấn luyện tốt trong quân đội trong lòng không lo nghĩ gì, hơn nữa đã niệm được hơn ba năm Thánh hiệu, cho nên trở thành một thanh niên thông minh sáng suốt, phước tướng phẩm hạnh đoan chánh. Sau khi về nhà liền đến nhà máy bột mì cám ơn ông Chủ tịch và hết thảy mọi người việc mẹ anh được mọi người giúp đỡ trong thời gian ba năm anh phục dịch trong quân đội. Lúc đó trong nhà máy có một nữ viên chức nhìn thấy Tấn Truyền đẹp trai hiền lành chất phác, nên tình nguyện kết nghĩa Tần Tấn với anh, sư tỷ Khoan Kim tiết kiệm tằn tiện trong ba năm trời, thêm vào đó được tiền thưởng khi nghỉ việc, hết thảy dành được một vạn đồng, làm tiền chi phí cưới vợ cho con, thật là không ngờ lại cưới được một con dâu hiền thục con nhà giàu nhưng không hề kiêu ngạo. Không lâu sau đó hai vợ chồng liền mua mấy căn nhà cũ ở khu Bắc, bắt đầu tự làm ăn. Với sự chăm chỉ chí thú làm ăn của Tấn Truyền, cơ sở ngày một phát triển. Năm năm trước đây đã giở bỏ căn nhà cũ, làm lại một căn nhà lầu mới bê tông cốt thép, trên lầu thờ Phật, Bồ Tát. Sư tỷ sớm tối càng tu hành lễ bái tinh tấn hưởng thọ cái vui đoàn viên trong đời. Cứ như thế, mọi người đều nói là nhờ sự che chở của Phật, Bồ Tát. Đây cũng chính là phước báo có được sau khi chuyển nghiệp.

  9. 57. PHẬT, BỒ TÁT KHÔNG PHỤ NGƯỜI CHÍ TÂM

    Sư tỷ Khoan Kim trong ba năm, có một hôm nhận được một lá thơ hẹn giờ, là thơ của con trai lớn ở dưới quê Ngô Thê gởi lên. Trong thơ nói với bà đứa cháu nội mười tuổi bị bệnh viêm màng não đã mười ngày, thuốc thang trị liệu không hiệu quả, hiện đang trong trạng thái hôn mê, tánh mạng nguy hiểm trong sớm tối, mời mẹ về nhanh. Sư tỷ nghe tin tức, liền đi thỉnh một bức tượng Tây phương Tam Thánh và một quyển Kinh Di Đà, mang theo mõ chuông vội vàng về quê. Đến nhà trời đã tối, thấy một thầy thuốc đang khám bệnh cho cháu, lại thấy cháu đang trong cơn nguy cấp muôn phần, tay chân bị co giật không ngớt, chỉ thấy bác sĩ (thầy thuốc) lắc đầu nói: “Đáng tiếc! Đáng tiếc! Lớn như thế này mà gặp không may sốt cao 40 độ, lại bị co giật, sinh mạng đứa nhỏ này khó mà giữ lại được, tối đa chỉ kéo dài đến sáng mai!… So với thằng bé họ Trần ở gần bên, mặc dù cũng đồng một chứng viêm màng não, nhưng thằng nhỏ kia sốt chỉ có 38 độ và không có bị co giật, hy vọng trị khỏi được nhiều hơn”. Bác sĩ nói xong liền đi.

    Sư tỷ Khoan Kim mặc dù nghe những lời nói đó của bác sĩ, nhưng vẫn không nản lòng, lập tức treo tượng Tây phương Tam Thánh lên, thắp hương đốt đèn, trước tụng một quyển Kinh Di Đà và xưng niệm Thánh hiệu Di Đà không dứt, còn kêu con trai, con dâu, ba người luân phiên nhau niệm. Người già thì có nhiều kinh nghiệm, nhìn thấy miệng mũi của thằng nhỏ khô khốc, lại niệm một ly lớn nước chú đại bi, chế vào miệng nó, miệng mồm liền được thấm nhuần tươi tắn. Thật đúng niệm Phật chỉ sợ tâm không chuyên, nếu có thể chuyên, người nào cũng đều có thể được cảm ứng. Đang lúc ba người niệm đến nửa đêm, thì con dâu bỗng nhiên kêu mẹ chồng một tiếng, nói: “Lúc con đang nhắm mắt niệm Phật, thì nhìn thấy ba tượng Phật, Bồ Tát rất là cao lớn, đều ở trong phòng, nhưng lúc mở mắt ra thì không thấy nữa, nhắm mắt lại thì lại nhìn thấy. Thật là không thể nghĩ bàn! Má! Má có nhìn thấy không?”. Sư tỷ nói: “Rất tốt, rất tốt. Có lẽ thằng nhỏ này được cứu rồi, do vì tâm con cung kính niệm, khẩn thiết cầu xin, cho nên sự cảm ứng được giao thông. Con xem nó bây giờ đã hết co giật rồi đó ư? Chúng ta tiếp tục thành tâm niệm nữa đi!”.

    Sư tỷ Khoan Kim, con trai và con dâu, ba người gắng sức van cầu Phật, Bồ Tát, suốt đêm tiếng niệm Phật không hề gián đoạn. Phật, Bồ Tát thật là không có phụ người chí tâm, khi trời vừa sáng, con bệnh đã xuất hạn mồ hôi và hạ sốt, con mắt đã có thể chuyển động, tứ chi cũng đã cử động được rồi, bỗng nhiên mở miệng kêu lên một tiếng: “Bà nội!”. Lúc đó bà nội và ba mẹ của thằng nhỏ đều mừng rỡ, cảm động đến muốn khóc…

    Ngay lúc đó, ông bác sĩ kia bỗng nhiên đi đến, khám kỹ thằng nhỏ này, cũng rất vui mừng nói: “Chúc mừng, chúc mừng! Thằng nhỏ này đã không còn lo gì đến tính mạng nữa rồi, đã khỏi hơn phân nửa. Nói ra thật có kỳ tích! Người bệnh nặng thì chuyển nguy thành an, còn thằng nhỏ bệnh nhẹ họ Trần ở gần bên thì ngược lại đã chết! Tôi vừa được họ mời đến, làm giấy khai tử cho nó. Theo lời cha mẹ nó nói nửa đêm biến chứng, không bao lâu thì tắt thở, do đây sẵn tiện đến thăm thằng bé nhà các vị”.

    Sư tỷ nói với tôi: “Thằng cháu trưởng của tôi hoàn toàn nhờ Phật, Bồ Tát giáng hiện điềm lành mới được may mắn sống lại. Đến giờ thằng nhỏ này tinh thần bình thường, ngũ quan tứ chi đoan chánh. Nhưng có điều khiến người ta khó hiểu là tại sao trong ba người của chúng tôi, chỉ có mình con dâu thấy được Phật, Bồ Tát hiện ra, còn hai mẹ con tôi lại không nhìn thấy? Tôi nghe xong giải thích cho bà ta nghe như thế này: “Do vì sư tỷ lúc đó đang bận trì niệm nước chú đại bi và rót từng giọt từng giọt vào miệng thằng nhỏ, cho nên tâm niệm Phật không được chuyên; đến như con trai lớn của bà, do vì chưa từng nghe qua pháp môn Tịnh độ, không biết được điều hay tốt của niệm Phật, nên chỉ niệm bằng miệng, còn trong tâm thì tán loạn nên không thể thấy được. Còn con dâu của sư tỷ nó biết nghe lời của sư tỷ, hơn nữa cái tâm muốn cứu con tha thiết, niệm được tâm và Phật hợp nhau, nhứt tâm bất loạn, giống như nước trong trăng hiện, cảm ứng do bởi cái tâm cô ta thành khẩn, cho nên không bị cái đau mất con. Đây là một chuyện thật của sư tỷ Khoan Kim dạy con dâu niệm Phật mà được chuyển nghiệp.

  10. 58. TAI NẠN BỊ TREO Ở SƯỜN NÚI, NGUY HIỂM KINH SỢ, RỐT CUỘC KHÔNG SAO

    Tấn Truyền, người con thứ ba của sư tỷ Khoan Kim, có thời gian anh ta vừa làm ông chủ vừa làm công việc đối ngoại, hồi năm rồi có một hôm anh cỡi một chiếc xe mô tô đến vùng quê ở trong núi sâu thuộc đất Khai Phong để thâu nợ. Lúc sắp về nhà đi ngang qua một ngọn núi bên trái là vách núi, bên phải là vực sâu mấy trượng, xe chạy ngang qua chỗ này, bỗng nhiên “bùm” một tiếng lớn (bể bánh?); trong chớp mắt chiếc xe rơi xuống vực sâu, nhưng Tấn Truyền tay mắt nhanh nhẹn, hai tay túm chặt được một bụi cỏ trúc treo trên sườn núi không bị rớt theo xe xuống vực sâu. Đất ruộng ở dưới vực có bốn, năm người nông phu đang cày ruộng ở đó, mắt thấy xe rơi xuống, liền la to: “Xong rồi, xong rồi!”. Đợi đến lúc lại dựng xe lên xem: thật là kỳ lạ, chiếc xe này vẫn còn tốt y nguyên, không có hư chút nào hết, những người nông phu đó liền cứu Tấn Truyền đang hôn mê nằm treo trên sườn núi, sau khi tỉnh lại Tấn Truyền nhìn sườn núi chỗ mới treo trên đó, ngạc nhiên nói: “Ô! Tôi mới vừa rồi rõ ràng nắm cứng bụi cỏ trúc treo ở sườn núi đó mà, mới không bị ngã rơi xuống đáy vực”. Mấy người nông phu đó nói: “Sườn núi này từ nào tới giờ láng lẩy, cỏ trúc ở đâu mà có? Chắc là mắt anh hoa nhìn lộn đấy thôi. Nhưng anh thật là may mắn, từ trước tới giờ bất kể là đi xe mô tô hay xe đạp, mà bị sự cố ở đây, đều không có ai sống sót hết! Trước đây mấy hôm lại có một cô gái cỡi xe đến đây bị sự cố, chết ngay đây nè!”.

    Tấn Truyền liền kiểm tra xe lại kỹ lưỡng, không có hư chút gì hết, mình mẩy cũng không bị chút thương tích nào, liền cỡi xe bình an trở về nhà. Về đến nhà lập tức chạy lên trên lầu lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát rất là cung kính, lại kể cho mẹ nghe chuyện kỳ lạ của tai nạn xe vừa rồi và lời kể của những người nông phu ở đó, nếu không phải Quán Thế Âm Bồ Tát hóa hiện ra một bụi cỏ trúc lớn cho con nắm lấy, thì con và xe đã cùng rơi xuống vực sâu, sớm đã tan xương nát thịt rồi”. Cả nhà nghe đến nỗi đổ mồ hôi lạnh ra cả nắm tay, nếu không phải Bồ Tát phò hộ cùng với những người nông phu tốt bụng, thì chiếc xe rơi xuống đáy vực như thế làm sao có thể kéo lên được?…

    Sau khi Tấn Truyền thuật lại chuyện nguy hiểm, kinh sợ vừa trải qua xong, thì có hơi mệt, lúc ngã nằm xuống trên giường nghỉ, thì thần thức liền phấp phới bay đến nơi vừa rơi xe, chỉ thấy một con quỷ nữ mặt mày hung ác, trên đầu kết một xâu tiền mã lớn, chạy tới chạy lui nơi đó, Tấn Truyền sợ quá bất giác chắp tay lại và xưng niệm “Nam mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát ” (ở trong mộng mà thần thức có thể niệm Phật được, thì có thể tiêu tai giải nguy) Tấn Truyền ở trong mộng niệm chưa đến mười tiếng, thì Quán Thế Âm Bồ Tát hiển linh trên hư không, đến gần phía trước dán tờ giấy viết “Án ma ni bát di hồng” trên trán của Tấn Truyền, rồi dùng cây phất trần cầm trên tay phẩy con quỷ nữ biến mất tiêu. Tấn Truyền vừa tỉnh lại, hóa ra là một giấc mộng, nhưng cảnh giới trong mộng anh nhớ rất rõ ràng. Chuyện này chứng minh: “Ai ăn nấy no, tội nghiệp của ai thì người đó phải tự tiêu trừ!”. Nếu như Tấn Truyền tự mình không có niệm được Thánh hiệu Phật, Bồ Tát, thì không thể tưởng được truyện ra sao rồi! Đây cũng là chuyện cảm ứng của sư tỷ Khoan Kim dạy con niệm Phật mà được nghiệp theo tâm chuyển.

  11. 59. ĐỨNG CHẮP TAY MỈM CƯỜI VÃNG SANH TÂY PHƯƠNG

    Việc đau xót thống khổ nhất trong đời không gì hơn CHẾT, không ai là không biết cũng không ai có thể tránh khỏi. Do đây Đức Thế Tôn với tâm từ bi vô hạn, không hỏi mà tự nói, giới thiệu ra pháp môn Tịnh độ, dạy người tin sâu, nguyện thiết, chuyên cần niệm Phật cầu sanh Tây phương. Nên biết việc vãng sanh Tây phương cần phải ở nơi một niệm cuối cùng của tự bản thân là chủ yếu, đồng thời cũng phải cần các liên hữu trợ niệm đúng pháp, nhưng mà lục thân quyến thuộc, thường không có biết trợ giúp niệm Phật để đưa thần thức của người mất vãng sanh Tây phương Cực lạc thế giới, hưởng thọ sự an lạc mãi mãi, mà ngược lại đau xót khóc lóc kêu la, đẩy thần thức của người mất rơi xuống ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chịu sự khổ sở lâu dài, đau thương vô cùng! Nay lại đưa ra đây một truyện niệm Phật được vãng sanh, một truyện thật, đứng mà hóa sanh Tây phương như sau:

    Mười năm trước đây, cư sĩ Lại Luyện Lương từng nói với tôi một kỳ tích vãng sanh. Ông ta nói gần nhà của ông có một vị sư tỷ tên Ấu đã 68 tuổi. Bà bình thường không biết chữ, chỉ chuyên tâm niệm Phật, bà chỉ có một cô con gái nên gả con bắt rể. Phật thất hai mùa Xuân, Thu của chùa Linh Sơn bà đều tham gia, thấy các bạn đồng tu nam nữ đều mặc áo tràng trang nghiêm tề chỉnh. Một hôm liền nói với con rể rằng: “Chiếc nhẫn vàng này của má, con đem đi bán dùm cho má”. Con rể hỏi: “Má già rồi đâu có dùng tiền làm gì, phải bán chiếc nhẫn làm cái gì?”. Bà liền đáp rằng: “Má rất mong có một cái áo tràng, kỳ đả Phật thất sắp đến rồi, má cần mặc để tham gia Phật thất”. Con rể hỏi bà: “Áo tràng cần bao nhiêu tiền, con may cho má, hoặc mua là được rồi, không cần bán chiếc nhẫn vàng đâu!”. Sư tỷ Ấu nói cần 200 đồng.

    Sáng sớm ngày thứ nhất của kỳ Phật thất, sư tỷ Ấu liền tắm rửa, mặc chiếc áo tràng mới may, chuẩn bị, trước thắp hương, đốt đèn lạy Phật ở nhà, rồi đi chùa Linh Sơn đả Phật thất. Lúc đó, gần nhà có một vị liên hữu là A Tam Muội, dậy sớm, liền đến hẹn với sư tỷ cùng đi đả thất. Sư tỷ Ấu nói: “A Tam Muội, cô đi trước đi, tôi phải lạy Phật ở nhà trước”. Sau khi A Tam Muội đi, sư tỷ Ấu mặc áo tràng vô cùng vui vẻ, quỳ xuống lạy Phật ba lạy, xong ngẩng đầu lên chiêm ngưỡng Thánh tượng, thì thấy tượng Tam Thánh chuyển động vòng tròn, đồng thời khói hương trong lò hương cũng chuyển động, trong lòng không khỏi càng nghĩ càng cảm thấy kỳ lạ, mà càng nhìn thì càng chuyển.

    Sư tỷ Ấu nghĩ không ra tại sao, mặc nguyên áo tràng đến mấy nhà liên hữu ở gần mời họ đến xem tại sao Tây phương Tam Thánh và lư hương đều quay vòng? Bốn, năm vị liên hữu theo bà đến xem, mọi người đều nói không thấy gì. Lúc các vị liên hữu cùng nhau đồng lời nói, nhưng không thấy sư tỷ Ấu trả lời, quay lại nhìn, thì thấy sư tỷ Ấu đứng yên không nhúc nhích, hai tay chắp lại mỉm cười quy Tây rồi, các vị liên hữu tức thời đúng như pháp, trợ niệm cho sư tỷ và bảo người nhà không được khóc, mà cùng trợ niệm, lại kêu con rể của sư tỷ đến chùa Linh Sơn mời A Tam Muội đồng về trợ niệm. Lúc con rể sư tỷ đến chùa gặp được A Tam Muội nói với cô: “Má tôi đã vãng sanh Tây phương, mời cô về trợ niệm”, thì A Tam Muội làm sao chịu tin, do vì cô ta sáng nay còn gặp sư tỷ Ấu, lại còn hẹn với sư tỷ đồng lên chùa Linh Sơn tham gia Phật thất mà! Truyện kỳ tích vãng sanh Tây phương này, tôi cũng có hỏi qua sư tỷ A Tam Muội, chứng minh đích xác, không có nửa câu giả dối.

  12. 60. HIỆN BỐN THỨ TƯỚNG LÀNH, NHẤT ĐỊNH VÃNG SANH TÂY PHƯƠNG

    “Người không tin Phật, không sanh vào nhà ta. Ông Lữ dạy con, đời đời được vinh hoa”.

    Hai câu trước là nói về ông Lữ Mông Chánh đời Tống, ông là một vị Phật tử thuần thành. Mỗi ngày vào sáng sớm, khi lạy Phật lạy Tổ đều lấy hai câu này làm câu cầu nguyện sau cùng của thời khóa hàng ngày. Hai câu sau là đời người sau khen ngợi ông Lữ dạy con có phương pháp, tứ đại đồng đường (4 thế hệ: ông bà cố, ông bà nội, bố mẹ, con cái ở chung trong một gia đình) hưởng lộc đều là đệ tử Tam bảo, vinh hoa phú quý làm quan đến chức Tể Tướng.

    Lời tục ngữ nói rất hay: “Gia đình muốn hưng thạnh, hãy nhìn xem con cháu”. Mỗi gia đình đều có con cái, đều mong ước chúng trở thành hữu dụng. Nhưng hiện đang đời mạt pháp, có thể có được mấy người giống như ông Lữ dạy dỗ cháu con học Phật để được nhờ lợi ích của Phật pháp? Thật có thể nói là ít thấy như lông chim Phụng, sừng Kỳ lân. Mặc dầu là ít có, khó được, nhưng bút giả (bà Khán Trị) rốt cuộc đã thấy được một vị, ông ta chính là cư sĩ Lâm Thanh Giang mới vãng sanh gần đây, tuy không có tài hoa như ông Lữ, nhưng sự dạy dỗ con cháu học Phật, giúp đỡ cho ông vãng sanh lúc mạng chung, hiện được tướng lành không thể nghĩ bàn, thật đáng quý, khó thể có được, sự thật như sau:

    Lão cư sĩ Lâm Thanh Giang, quê của ông ở một làng bên bờ biển ở Ngô Thê, hiện ở số 15 đường Đại Trí, thành phố Đài Trung. Ông tự kể lại khi mới vừa sinh ra đời, liền đã chịu một tai nạn lớn. Do vì nhà ông ở bên bờ biển, ông mới sanh hai mươi ngày bị trời mưa lâu, nước biển dâng lên, có mấy làng đã bị nước biển dâng lên cuốn đi, biến thành biển cả mênh mông, nhìn không thấy bờ mé! Cả nhà ông ta vội vã dùng chiếc bè tre đánh cá, chất hết người cả nhà và lương thực lên trên chiếc bè tre đó, mặc cho nước cuốn trôi, trong đó có một người sản phụ bồng một đứa trẻ chưa đầy tháng, đó là Lâm Thanh Giang. Ở trên chiếc bè tre đó trôi nổi 20 ngày, thật là chín phần chết, một phần sống. Vượt qua lần tai nạn này có người nói: “Nạn lớn mà không chết, ắt có phúc về sau”. Cái hạnh phúc đó của Lâm lão cư sĩ là cái gì? Có lẽ chính là việc về già được sự lợi ích do học Phật nghe pháp.

    Lâm lão cư sĩ tư chất thông minh tự nhiên, tuổi thiếu niên đi học rất có trí nhớ, phần lớn những sách đọc qua rồi thì không quên, cho nên những thứ ông đã học như: địa lý, y học, số mạng, bốc thuật (coi bói), tướng thuật và thơ văn, thảy thảy đều giỏi, có thể cùng với người nói chuyện trên trời dưới đất gì cũng được. Mặc dù nghề nghiệp của ông là buôn bán, nhưng nếu có thời gian rảnh, ông liền khám bệnh bốc thuốc cho người bất kể là trị những chứng bệnh khó khăn gì, phần nhiều là thuốc đến là hết bệnh, cho nên những bệnh nhơn được trị khỏi khắp nơi rất nhiều, hết thảy đều là kết duyên, không bao giờ nhận tiền của ai, cho nên ở trong làng những bà con bạn bè đều khen ông là: “đệ nhất thiện nhơn”. Do bởi nhân duyên làm lành mà vốn dĩ y theo ngày tháng năm sanh của ông tự coi số thì thọ mạng tối đa của ông là năm mươi bốn tuổi, so với lúc ông vãng sanh hồi năm ngoái là bảy mươi chín tuổi, tính ra thọ thêm được hai kỷ, nếu như không thọ thêm hai mươi bốn năm thì cũng đã sớm giống như những người thường, đi vào luân hồi lục đạo rồi!

    Cơ duyên học Phật của Lâm lão cư sĩ là vào lúc nhà ông ở đường Dân Tộc, thành phố Đài Trung làm hàng xóm với cư sĩ Giang Ấn Thủy. Giang cư sĩ mới rủ ông đi nghe kinh, niệm Phật với lão ân sư Lý (Lý Bính Nam), rồi thọ đại giới Bồ Tát. Từ đó hai thời khóa sáng tối không gián đoạn, đều là cùng ông bạn già đồng ra vào cùng nhau tu trì. Ông chẳng những tự tinh tấn tu hành, đối với việc dạy dỗ con cái, ông cũng rất chăm chỉ, tạo thành một gia đình Phật tử thuần thành, nhất là đối với đứa cháu nội Diệu Đường càng chú trọng, đặc biệt mỗi sáng chủ nhựt vào tuần lễ Đức dục Nhi đồng của liên xã, ông đều bảo cháu nội Diệu Đường đến tham gia niệm Phật, nghe chuyện. Về sau lại khích lệ cháu nội gia nhập lớp bổ túc Quốc văn, sau khi học xong lớp bổ túc Quốc văn lại tham gia đại hội diễn giảng của thanh niên tân xuân ở Liên xã. Diệu Đường trước sau đã có bốn lần kinh nghiệm, đây đều là do sự hun đúc của ông nội, Diệu Đường chẳng những ăn nói lanh lợi mà còn do cội gốc gia đình có ăn học (có gien) được truyền thừa y bát của ông nội (những sở đắc của ông nội), chí nguyện sau này cũng muốn hành nghề chữa bệnh làm nghĩa giúp đời, cứu giúp những người bệnh.

    Lão cư sĩ Lâm Thanh Giang năm rồi bảy mươi chín tuổi, sức khỏe bỗng suy yếu, tứ đại không điều hòa, nằm bệnh triền miên sáu tháng, nhưng lúc ông đau đớn vì bệnh, chỉ cần người trong nhà ở trước mặt ông, vì ông mà niệm Phật thì ông không có kêu đau gì cả, về sau các người trong nhà bèn chia ban ra niệm Phật suốt ngày đêm không ngớt và thỉnh ân sư Bính Công về khai thị cho ông, dạy cho ông buông bỏ vạn duyên, nhứt tâm niệm Phật. Đến ngày 22 tháng 12 ÂL lúc nửa khuya, Diệu Đường nhắm mắt niệm Phật bên ông nội, bỗng nhiên nhìn thấy một đám người muốn xông vào cửa lớn, nhưng hai bên cửa lớn: phía bên trái có Bồ Tát Già Lam Thánh chúng đứng, tay cầm đại quan đao, phía bên phải có Hộ pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát đứng, tay cầm hàng ma chữ. Hai vị Bồ Tát này dùng đại quan đao và hàng ma chữ chận đứng đám người đó lại rồi đuổi đi; nhưng không bao lâu lại có một đám người khác đến nữa, liên tiếp ba lần đều như thế, Diệu Đường nhìn thấy cảnh này rất rõ ràng, liền biết là oan nghiệp đời trước đến đòi nợ bị thần hộ pháp của Phật giáo chặn đứng đuổi đi… Sáng sớm lão cư sĩ nói với con dâu (mẹ của Diệu Đường) rằng: “Tối nay Ba sẽ vãng sanh Tây phương”.

    Diệu Đường liền chạy đến Liên xã thỉnh các vị trợ niệm, có ban trưởng ban Vũ Đức là Hoàng Thái Vân và một số người đến trợ niệm cho ông, từ sáng sớm ngày đó bắt đầu niệm, niệm đến hơn 10 giờ tối. Sau khi các vị trong ban hộ niệm đi về, thì cả nhà do Diệu Đường hướng dẫn niệm Phật, không bao lâu, bỗng nhìn thấy một đạo hào quang từ cửa xẹt vào đối thẳng với tượng Phật A Di Đà, liên tiếp ba lần phóng ánh sáng như thế, lúc đó lão cư sĩ Thanh Giang trên mặt lộ vẻ khoan thai vui vẻ, miệng mỉm cười vãng sanh Tây phương, lúc đó đúng 11 giờ đêm. Vì phải sắp đặt bàn linh đang lúc Diệu Đường muốn đi ra ngoài cửa để đi mua đèn cầy, thì thấy hào quang rực rỡ trên hư không từ hướng Tây chiếu thẳng vào nhà, vì nhà của ông tọa vị hướng Đông, quay về hướng Tây. Lúc Diệu Đường về nhà thì người anh đang niệm Phật bên ông nội nói với Diệu Đường rằng: “Lúc em đi ra ngoài mua đèn cầy, anh đang niệm Phật ở đây thì bỗng có một làn hương thơm bay lại, không phải mùi của đàn hương, cũng không phải là mùi thơm của hoa, mà là mùi thơm rất lạ ở thế gian này ít có!”. Cả nhà đều chuyên tâm nhứt ý niệm Phật mãi đến trời sáng không dứt đoạn. Đã trợ niệm được tám giờ, lúc đó bà nội của Diệu Đường muốn đến bên người bạn đời đã từ giã cõi trần, khó tránh khỏi buồn thương liền nhè nhẹ vén cái mền đang đắp ra thì bỗng nhiên một mùi thơm lạ sực nức mũi! Con cháu, mọi người cả nhà, ai cũng đều khen ngợi Phật pháp vô biên không thể nghĩ bàn!

    Do bốn tướng lành ở trên, suy ra thì biết lão cư sĩ Lâm Thanh Giang, chắc chắn vãng sanh Tây phương không còn nghi ngờ gì nữa. Con dâu của ông càng khen ngợi may nhờ Phật, Bồ Tát gia bị nên vãng sanh vào ban đêm, trợ niệm tròn đủ tám giờ, không có động đến thân thể ông, cũng không có ai khóc, được sự thuận lợi cho việc trợ niệm vãng sanh, nếu không thì lục thân quyến thuộc mấy chục người thân thiết nhưng họ chưa từng biết niệm Phật nghe pháp, vừa nghe người thân qua đời, chắc chắn chen chúc mà đến, làm sao có thể ngăn được họ không gào khóc om sòm. Đây cũng là phước báo thù thắng của Lâm lão cư sĩ lúc lâm chung vãng sanh Tây phương không có chướng ngại.

  13. 61. BỆNH CŨ MƯỜI NĂM, KHÔNG THUỐC MÀ KHỎI

    Lâm A Thuyên ban viên của ban thí tài (bố thí tài vật), có một lần nói với tôi, cô có một người em gái ở gần cầu cửa Nam khu Đông, 20 năm trước sanh đứa con trai thứ hai, đặt tên là Kim Tinh. Đứa bé này từ lúc lọt lòng mẹ đến 3 tuổi thân thể gầy còm yếu đuối không như những trẻ bình thường khác, hầu như không có ngày nào không khám bác sĩ và uống thuốc, suốt ngày đêm mẹ đều bế trong lòng. Một hôm vào buổi chiều bệnh của thằng nhỏ này đến mức rất nghiêm trọng, lúc chỉ còn chút hơi thở thoi thóp, mẹ của nó bỗng nhiên nhìn thấy ba, bốn quỷ thần hung ác muốn giựt lấy đứa con cô đang bế trong lòng, nhưng cô bất kể thế nào cũng ôm chặt không chịu buông ra. Trong khoảnh khắc sống chết muôn phần nguy hiểm đó, thì thấy từ trên hư không hiện xuống một người nữ, dung mạo trang nghiêm tay cầm phất trần, hướng về những quỷ thần hung ác nói: “Thằng nhỏ này phải sống trên dương thế, các ngươi không được bắt nó đi”. Nói xong vung phất trần lên phẩy một cái, những quỷ thần đó liền biến mất. Người nữ trang nghiêm đó liền hướng về mẹ con của Kim Tinh nói: “Ngươi phải nên niệm Phật A Di Đà thì con của ngươi sẽ dễ nuôi”. Từ đó về sau sức khỏe thằng bé Kim Tinh được chuyển đổi từ ốm yếu thành mạnh mẽ, vui vẻ dễ nuôi. Sư tỷ A Thuyên kể đến đây, lại nói với tôi: “Sư tỷ Khán Trị à! Sư tỷ xem, nếu không phải là Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn hiện thân đến giải cứu, thì làm sao có được Kim Tinh ngày nay? Chắc đã chết non năm 3 tuổi rồi”. Tôi liền hỏi bà ta: “Quán Thế Âm Bồ Tát dạy cô ta phải niệm A Di Đà Phật, cô ta có niệm hay không?”, A Thuyên đáp: “Em gái tôi vốn không hiểu được A Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát là gì? Do vì nó hỏi tôi việc này. Tôi liền nói cho nó nghe những điều hay tốt và ý nghĩa của việc niệm A Di Đà Phật, từ đó mới bắt đầu niệm Phật”. Ngày tháng thoi đưa, thời gian như tên, mới nháy mắt mà Kim Tinh đã 17 tuổi rồi, và là một thanh niên hiền lành, siêng năng làm việc. Từ sự giới thiệu của Diệu Đường, anh gia nhập lớp bổ túc Quốc văn của liên xã ở Đài Trung, thành tích học thuộc hạng giỏi, và anh cũng tham gia bốn lần đại hội giảng diễn của thanh niên Phật giáo Tân Xuân và tham gia hoằng pháp ở thành phố, đều do từ một tấm lòng thành mà ra, tài ăn nói lanh lợi, chẳng những tự thân được pháp hỷ sung mãn, anh lại còn tâm tâm niệm niệm muốn độ cho mẹ anh nữa. Vào năm Dân quốc thứ 55 lúc tôi đến giảng phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn ở viện nuôi trẻ Từ Quang, thì cậu học sinh Kim Tinh mỗi lần như thế đều đạp xe chở mẹ đi nghe giảng và niệm Phật.

    Theo lời Kim Tinh thì gia đình của cậu trước đây làm ruộng, mẹ cậu là một người đàn bà giỏi giang, cần cù và tiết kiệm, nên sanh con chưa đầy tháng đã ra ruộng làm việc; vì cực khổ quá mức như thế nên sau lần sanh cậu ta thì mắc chứng bệnh chân bị co giật đau, đi đứng không được tự nhiên; nhưng từ sau khi nghe giảng phẩm Phổ Môn, biết được sự linh cảm của việc niệm Thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát và việc Bồ Tát tầm thanh cứu khổ, bà liền thờ tượng Tây phương Tam Thánh trong nhà, sớm tối thành kính lễ bái. Có một đêm 2 giờ khuya thức dậy, hai chân bị gân rút đau quá, đau đến toàn thân đều đau. Đang lúc đau không chịu nổi bà chỉ một mực to tiếng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát đến lúc trời sáng, thì cái bệnh cũ hơn 10 năm, rốt cuộc không thuốc mà khỏi, gân cốt đau nhức hết thảy đều tiêu sạch. Sự thật trên đây là do Kim Tinh nói với tôi.

  14. 62. CON CHÁU HỌC PHẬT CẢM HÓA ĐƯỢC NGƯỜI LỚN

    Một lần nữa kể về một thanh niên Phật giáo, họ Dương tên là Nghĩa Hoàng, năm nay mười tám tuổi. Ba năm trước lúc tôi giảng “Lương Hoàng Bảo Sám” ở liên xã, do cậu học sinh Kim Tinh giới thiệu đến liên xã nghe giảng. Mỗi lần nghe những câu chuyện cảm ứng về niệm Phật thì cậu thanh niên Nghĩa Hoàng này về nhà đều kể lại một cách say sưa hứng thú cho ba mẹ và những bà con bạn bè hàng xóm nghe, và xin được sự đồng ý của ba mẹ thỉnh bức tượng Tây phương Tam Thánh lớn về lập bàn thờ phụng, mỗi sáng nhất định phải thành khẩn lễ bái niệm Phật xong mới đi làm.

    Đây là sự việc của mùa hè năm ngoái, gần nhà của Nghĩa Hoàng có một nhà nọ dọn về quê ở làng Sa Lộc ở, bà chủ của nhà này đã được sự huân tập của Nghĩa Hoàng, hiểu được niệm một câu A Di Đà Phật có thể tiêu tai giải nguy, cho nên trong tàng thức đã gieo trồng hạt giống kim cang; nhưng trong nhà của bà từ chồng bà trở xuống mọi người đều không chịu niệm Phật. Chồng của bà làm thợ rèn trong một công xưởng ở Đài Trung. Có một hôm vì trong công xưởng có nhiều việc, ông chủ kêu ông ta về quê tìm mướn công nhân dẫn lên.

    Ông này cũng là người hiền hậu siêng năng, tranh thủ lúc làm việc ca đêm xong liền ngồi chuyến xe 11 giờ đi về Sa Lộc, nhưng muốn về đến nhà, nhất định phải đi bộ một tiếng đồng hồ, lại phải đi qua một con đường sắt xuyên dọc theo bờ biển. Ông này đến Sa Lộc đã hơn 12 giờ muốn thuê taxi, xe đòi giá 20 đồng. Nhưng ông từ trước đến giờ rất hà tiện, không cam lòng tiêu xài 20 đồng, nên tự đi bộ về nhà. Lúc đi đến chỗ xa xa phía trước là con đường sắt thì nghe tiếng nỉ non khóc lóc của một người con gái, lúc đi đến gần đường sắt thì thấy cô gái đó khoảng mười sáu, mười bảy tuổi ngồi giữa đường sắt, cô gái này mặc đồ trắng, trên lưng mang một bao vải, ông này vội vàng đi qua thì cô gái ngồi giữa đường sắt đó lại từ phía sau kêu theo không ngớt: “Chú ơi! Tôi muốn theo chú về nhà!”. Lúc đó ông này nghe tiếng kêu của cô gái đuổi theo càng lúc càng gần, không khỏi lông tóc dựng đứng, không biết yêu ma quỷ quái gì, quay mình lại xem thử một cái, thì thấy cô gái đó chỉ mặc có một chiếc áo lót, thấy ông quay lại nhìn cô ta mạnh bạo kéo áo cho lộ ngực ra. Ông sợ quá quay đầu lại phóng chạy riết về nhà, lúc kêu cửa đã hơn 1 giờ khuya.

    Ông này chạy đến nhà hốt hoảng gõ cửa, vợ ông ta vừa mở cửa thấy chồng xông vào ngã trên ghế dựa hôn mê, bất tỉnh nhân sự lại còn thở gấp hổn hển. Bà vợ khôn ngoan cảm thấy việc này nhất định phải có duyên cớ gì đây, tức thời ngồi bên mình ông lớn tiếng niệm “A Di Đà Phật”, niệm chưa đến nửa tiếng đồng hồ, thần trí của chồng bà dần dần tỉnh lại, khi bình tâm tĩnh trí liền đem việc ở bên đường sắt nhìn thấy âm hồn nữ quỷ truy đuổi kêu réo kể lại cho vợ ông nghe.

    Vợ ông nói: “Con người ông như vậy vừa hồ đồ vừa mê tín, bình thường trước ngực ông có đeo cái bùa bát quái gì đó có thể đuổi tà được mà! Nghĩa Hoàng dạy chúng ta niệm A Di Đà Phật, ông lại không tin, nếu như không phải sau khi về nhà, tôi cố sức niệm Phật, có lẽ đến giờ ông vẫn còn hôn mê chưa tỉnh nữa là!”.

    Chuyện trên đây do cậu học sinh Nghĩa Hoàng kể với tôi. Tôi hỏi cậu ta: “Cái ông đó về sau thế nào?”. Cậu ta đáp “Bình an vô sự, sáng sớm ngày sau lại đến Đài Trung đi làm”.

    Ba vị thanh niên trên đây có thể làm ra được công đức không thể nghĩ bàn như thế: Diệu Đường trợ niệm cho ông nội vãng sanh và khuyến độ được Kim Tinh học Phật. Kim Tinh do lòng hiếu, cảm được đức Quán Thế Âm Bồ Tát trị khỏi được bệnh cũ nhiều năm cho mẹ, lại khuyến độ thêm được Nghĩa Hoàng niệm Phật, tinh thần từ bi của Nghĩa Hoàng, khéo dẫn dắt cho bà hàng xóm niệm Phật, cứu được chồng bà ta được khỏi bị nữ quỷ chọc phá. Chả trách ông Lữ Mông Chánh phát nguyện “Người không tin Phật, không sanh nhà ta”. Có thể thấy được con em biết học Phật cũng có thể cảm hóa được người lớn. To lớn thay Phật pháp, thật không thể nghĩ bàn!

  15. 63. TÀI XẾ NIỆM PHẬT, TAI ƯƠNG TIÊU TRỪ

    Vào mỗi chủ nhựt có tuần lễ Nhi đồng Đức dục ở Liên xã, người đứng đầu phụ trách (chủ nhiệm) là Lại Tuyết Hà, mọi người đều gọi bà là Bà giáo Lại. Mỗi sáng chủ nhựt, các em bé ở chung quanh gần đó đều tập họp đến Liên xã, bà tập cho hát tiếng Phạn, niệm Phật và kể những câu chuyện ngắn có quan hệ về Đạo đức, Nhân nghĩa, khiến tâm linh của trẻ được gieo trồng những hạt giống lành. Bà giáo Lại rất là từ bi, chẳng những tận tâm với nghĩa vụ, nhiệt tâm dạy dỗ các em… nếu gặp vào những ngày lễ vía của Phật, Bồ Tát bà lại còn tự móc hầu bao mua ít kẹo để kết duyên với các em nhỏ, hơn mười năm vẫn cứ phát tâm như thế, các bậc phụ huynh của các em được thọ ân huệ của bà, ai cũng đều cảm kích.

    Bà giáo Lại hiện nay đang làm việc ở một nhà máy ga lớn ở thành phố Đài Trung, làm chức chủ nhiệm phòng hành chánh tổng hợp, bà làm việc rất chăm chỉ, người trên kẻ dưới thảy đều rất tôn kính.

    Hồi năm rồi ngày 17 tháng 11, vía Đức Phật A Di Đà, bà giáo Lại đến hội Liên Nghị, sau khi bái tổ tiên xong, bà nói với tôi: “Trong nguyệt san Cây Bồ Đề, tôi xem được những sự tích cảm ứng của sư tỷ viết, cảm tạ từ ân của Phật, Bồ Tát, trong lòng thật hoan hỷ vô lượng!”. Bà giáo Lại lại nói: “Nhà máy của chúng tôi có một nhóm tài xế trẻ, mỗi buổi sáng, lúc ngồi sau tay lái sắp chở hàng đi, tôi liền dạy họ niệm mười câu “A Di Đà Phật” trước, rồi mới để họ lái xe đi, và dặn đi dặn lại nhiều lần nếu như gặp phải nguy hiểm, thì nên nhanh chóng niệm “A Di Đà Phật” to lên. Ngày ngày đều dặn dò, chỉ bảo như thế, lâu dần thành quen, tự nhiên đều như thế không cần phải dặn dò chỉ bảo nữa, tự họ đều biết niệm cả.

    Có một lần, một vị tài xế, mặt mày tươi rói đến nói với tôi: “A Di Đà Phật, sao mà đắc dụng như thế?”. Tôi liền hỏi anh ta đã xảy ra chuyện gì? Anh tài xế nói: “Hôm qua tôi đi chở hàng xa, mãi đến tối mới trở lại, nửa đường xe xảy ra sự cố, cứ chạy lệch hướng, gắng sức thế nào cũng đều không bẻ lái lại được, tôi liền lập tức niệm “A Di Đà Phật”, xe bỗng nhiên tự động dừng lại bất động, tôi lập tức xuống xe xem xét không ngờ bị một đống cát cản đứng bánh xe trước lại, đi tiếp ra phía trước xem, thì giựt mình hết hồn: có một cái hố sâu! Lúc đó nếu như không phải Phật A Di Đà hóa ra đống cát cản đứng bánh xe lại, xe chạy tiếp về phía trước, không chết thì cũng bị thương, như thế thật nguy hiểm quá sức!”. Anh tài xế do đó mà cảm ơn vô cùng việc dạy niệm Phật hàng ngày nhờ đó mà được gặp dữ hóa lành, nhặt lại được mạng sống.

    Bà giáo Lại lại nói: “Còn có một lần nữa, một anh tài xế khác có một hôm mặt mày hớn hở đến nói với tôi: “Phật A Di Đà thật là hay!”. Tôi liền hỏi anh ta: “Anh được cảm ứng gì mà vui vẻ thế?”. Anh tài xế này liền nói: “Tôi ngày hôm nay nếu như không biết niệm A Di Đà Phật chắc là đã sớm gây ra án mạng! Do vì hôm nay lúc lái xe trên một đại lộ, bỗng có một đứa nhỏ băng ngang đường, chạy ngay đến trước xe tôi, tôi đạp thắng gấp cũng không kịp, tức thời vọt miệng niệm lớn tiếng A Di Đà Phật! Trong bụng nghĩ đứa nhỏ chắc chắn đã chết thảm dưới bánh xe, cho nên sợ đến nỗi toàn thân tháo mồ hôi hột, nhưng khi xe dừng lại rồi, nhìn xuống thì thấy thằng nhỏ đó không có sao hết, đang vội vội chạy chuồn đi”. Anh tài xế này cũng cảm ơn tôi rối rít.

    Bà giáo Lại nói tiếp: “Lại có một lần trong nhà máy có một viên chức già đến hỏi tôi, ông ta nói phòng ốc ở nhà ông rất khó ở, mỗi lần đến đêm khuya mọi người yên tĩnh hết, thường có những âm thanh quái đản lại có vẻ gấp rút, có nhiều lúc bị quấy rầy đến suốt đêm không yên được! Không biết phải làm thế nào mới được đây? Tôi liền chỉ ông ta phương pháp niệm A Di Đà Phật và nói thêm với ông ta: “Chẳng những sớm tối phải niệm mà còn trước khi ngủ cũng phải niệm, nếu lúc phát giác có gì lạ, thì càng phải niệm to hơn”. Thật là một thang thuốc A Già Đà trị hết được muôn bệnh, vài tháng sau ông già đó đến cám ơn nói với tôi rằng: “Hiện nay nhờ phước ấm của bà mà mỗi đêm ngủ thẳng giấc tới sáng, đã yên ổn hết rồi”.

    Tinh thần to lớn của bà giáo Lại, ở trong Phật môn tâm tâm niệm niệm đều là muốn cứu độ chúng sanh, ở trong xã hội đối đãi với mọi người từ tốn lịch sự, làm việc thì chân thực, ở trong gia đình thì hòa thuận tốt đẹp, đích thật là một người vợ hiền mẹ tốt. Có thể nói từ gia đình ra đến xã hội cho đến công sở làm việc cả ba đều tốt đẹp, đáng được xưng là bậc trượng phu trong nữ giới, khiến mọi người đều kính phục.

  16. 64. NIỆM PHẬT CẢM ỨNG ĐƯỢC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT ỨNG HÓA CỨU ĐỨA EM

    Nhớ lại từ mười lăm năm trước, hội viên hoằng pháp của liên xã Trì Huệ Lâm đến Quân Công Liêu ở khu Bắc Đồn hoằng dương chánh pháp, tổ chức một ban niệm Phật gia đình, Bính Công ân sư đặt tên cho là “Ban Di Đà”. Lúc đó Huệ Lâm nói với tôi: Có một cô gái trẻ trong ban Di Đà tên là Ngọc Chi, chẳng những thành khẩn hai thời sớm tối, lại còn rất nhiệt tâm giúp đỡ trong ban làm việc, do đây được cảm ứng đạo giao với Quán Thế Âm Bồ Tát mà cứu được mạng đứa em trai bốn tuổi của cô ta.

    Quân Công Liêu là một làng trong núi dựa gần một cái vực to. Lúc bấy giờ gần nhà ở của Ngọc Chi có một ao cá, nước trong ao sâu hơn một trượng. Có một hôm, đứa em trai bốn tuổi của Ngọc Chi lúc đi chơi ở ngoài về nhà, mẹ nó vừa nhìn thì thấy mặt mày, tay chân, đầu tóc, quần áo giống như là con gà mắc nước, toàn thân ướt hết, lại bê bết bùn đất, bà mẹ liền biết nhất định là té xuống trong ao sâu, bà mẹ liền hỏi nó: “Con làm sao cho ướt nhẹp cả người đến thế này?”. Thằng nhỏ liền nói: “Con đang chơi bên ao, sơ sẩy bị té xuống trong nước!”.

    Bà mẹ vừa vội vã tắm thay đồ cho nó, trong lòng vừa cảm thấy kỳ lạ hỏi nó: “Con đã té vào trong ao, lại như thế nào mà bò lên được vậy?”. Thằng bé lại nói: “Lúc con té trong ao sâu thì thấy có một vị nữ nhân nhảy vào trong nước bế con lên, đặt xuống bên ao, rồi lại dẫn con về nhà, lúc về đến cửa thì lại không thấy đâu”. Mẹ của nó liền dẫn nó đến bên ao xem, trên đất một vũng nước ướt còn chưa khô, bà ta liền hỏi những người phụ nữ bên ao: “Trong các vị, ai là người nhảy vào nước cứu được thằng bé nhà tôi?”. Mọi người đều nói không có, hỏi ai cũng không biết, bà lại kêu thằng bé đi nhận diện người, hỏi nó là vị nào cứu nó, nhưng thằng bé này đều lắc đầu nói không phải. Vì muốn tri ân báo ân nên đã hỏi khắp hết các phụ nữ trong làng, vẫn hỏi không ra người nào.

    Trải qua khoảng mấy tháng, có người từ Nhật Bản mang về hạt đầu của xâu chuỗi (quả bầu), có một lần mang đến ban Di Đà bán, mỗi hạt là 10 đồng tiền mới của Đài Loan. Một mắt nhắm, một mắt mở xem thì thấy ở trong hạt pha lê nhỏ đó có một tượng Quán Thế Âm Bồ Tát trang nghiêm vô cùng, Ngọc Chi cũng thỉnh một hạt về nhà, cả nhà nam nữ già trẻ, như được vật chí bảo, mọi người đều tranh nhau muốn xem, thằng bé cũng giựt lấy đem đi xem, vừa lúc nhìn thấy liền nhảy nhót vui mừng, reo to lên: “Má ơi! Con khi trước té vào trong ao, người bế con lên chính là người trong hạt chuỗi này”. Lúc bấy giờ cả nhà Ngọc Chi mới bừng tỉnh, ngộ ra, thật vô cùng cảm tạ từ ân của đức đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát.

    Câu chuyện thật Quán Thế Âm Bồ Tát ứng hóa giải cứu đứa em trai của Ngọc Chi thoát khỏi nạn nước trong ao sâu trên đây là Huệ Lâm kể lại với tôi.

  17. 65. NHÂN DUYÊN TIN PHẬT CỦA HAI BÀ CHÁU

    Mười hai năm trước, có một thời kỳ lúc liên xã niệm Phật vào mỗi thứ Hai, mỗi lần như thế đều có một em bé khoảng mười tuổi tham gia.

    Sư tỷ Khoan Phụng nói với tôi: “Thằng bé này gần đây bị hai người chú đã mất của nó, dẫn đi âm phủ, được Phật A Di Đà giành lại cứu đem về”. Những lời này khiến tôi ngạc nhiên không hiểu gì hết, liền hỏi thăm nguyên nhân, sư tỷ Khoan Phụng liền nói ra sự thật sau đây:

    Có một vị liên hữu ở trên một tòa lầu đối diện với quán trọ hợp tác ở khu Tây, gia đình người ở tầng dưới có một đứa cháu khoảng 8 tuổi bị bệnh viêm màng não, bác sĩ Đông, Tây y điều trị đều không hiệu quả. Đã hơn mười ngày phát sốt cao không hạ, toàn thân đều tê dại không còn biết gì nữa, sư tỷ ở trên lầu mắt nhìn thấy thằng bé lanh lợi dễ thương bị bệnh tội nghiệp đến thế, liền nói với bà nội của nó: “Thằng nhỏ này đã bệnh nặng quá rồi, thuốc men gì đều không có công hiệu, tôi dẫn bà đi đến liên xã, cầu nguyện Phật, Bồ Tát phò hộ và thỉnh một ly nước chú đại bi cho nó uống”. Bà nội của nó vốn là người không tin Phật, nhưng hiện đang bị khổ não bức bách quá không còn cách gì, không biết làm thế nào nữa, nên liền theo lời của sư tỷ, hai người đến liên xã khấn vái trước Phật, Bồ Tát cầu nguyện được bình an và thỉnh một ly nước chú đại bi đem về, lấy muỗng, từng muỗng, từng muỗng rót vào trong miệng thằng bé. Xong, sư tỷ trở lên lầu niệm Phật.

    Sư tỷ ở trên lầu niệm Phật chưa đến mười phút, bỗng nhiên nghe thấy những âm thanh hỗn loạn dưới lầu: tiếng kêu réo, khóc la… sư tỷ vội vã xuống lầu xem, toàn thân toát mồ hôi lạnh, sư tỷ sợ đến nỗi gần như hồân phi phách tán, do vì mới vừa thỉnh nước chú đại bi cho nó uống xong, bây giờ lại biến chứng co giật, hai mắt trợn đứng, tim đập loạn xạ; sư tỷ tức thời lấy xâu chuỗi trong tay đặt vào chỗ co giật, miệng cứ to tiếng niệm A Di Đà Phật, niệm được chưa đến hai mươi phút, co giật đã dần dần giảm nhẹ, tim cũng hồi phục lại bình thường, Thánh hiệu vạn đức hồng danh, chỉ sợ không chuyên, nếu như chuyên tâm nhứt ý niệm, có niệm tất linh. Lúc đó thằng nhỏ bệnh thở ra một hơi, liền mở miệng nói chuyện: “Hai chú, một người lôi tay của con, bắt con đi theo mấy chú, con không chịu đi, lại rất sợ, mấy chú liền ép lôi kéo con đi, mãi đến lúc nghe tiếng niệm A Di Đà Phật của bà cô ở trên lầu, mới buông tay ra, chạy ra ngoài cửa, hiện mấy chú vẫn còn ở ngoài cửa, mắt cứ nhìn con chằm chằm thật sợ quá đi! Mau thỉnh bà cô niệm A Di Đà Phật tiếp đi!”.

    Lúc đó bà nội của nó liền nhớ lại con mình chết hồi ba năm trước, liền kêu tên của hai người và nói: “Các con không được cưỡng ép bắt cháu đi, các con phải phò hộ cho sức khỏe của nó được bình an, thì mẹ sẽ nhận nó làm con thừa tự cho các con, sẽ viết trên bài vị của các con thờ phụng, và đến ngày Tết, ngày giỗ sẽ cúng tế cho các con”. Nói ra cũng lạ, từ đó về sau sức khỏe của thằng bé này dần dần được khôi phục như cũ, tứ chi, ngũ quan, tinh thần đều trở lại bình thường, hoàn toàn không có trạng thái gì khác lạ, bà nội của thằng bé lại nói với sư tỷ: “Chả trách mấy tháng lại đây thường ở trong chiêm bao nhìn thấy hai đứa con ba năm trước nối nhau qua đời, tụi nó đòi tôi cho con thừa tự (con nối dõi để cúng bái). Tôi vốn không tin việc này, việc trong mộng làm sao mà có thật? Đây chính là lỗi của tôi. May mà có sư tỷ cứu được mạng của cháu tôi, thật là cảm ân vô cùng”.

  18. 66. OAN HỒN THEO ĐUỔI BỊ SỐT CAO, NIỆM PHẬT HẾT SỐT

    Lại nói về một lão sư tỷ ở nơi hoằng pháp Vụ Phong 10 năm trước. Bà ở đường Trung Chánh làng Vụ Phong, đã hơn 70 tuổi, người ta đều gọi bà là thím Chi, là một đệ tử Tam Bảo rất cung kính hết lòng niệm Phật. Có một hôm vị lão sư tỷ này nói với tôi: “Đứa cháu nội 9 tuổi của tôi, mấy ngày trước đến một chỗ xa nào đó, buổi sáng mới đi rất là vui vẻ, buổi chiều về sức khỏe không được thoải mái, cũng không ăn cơm tối, liền ngã ra giường ngủ, thằng bé này hồi nào tới giờ vốn ngủ với bà nội”.

    Người già thường có nhiều kinh nghiệm, nhìn thấy cháu nội đi chơi bên ngoài về liền ngã ra ngủ không tỉnh, trong lòng cảm thấy không an, nên cũng không ngủ được, liền ở bên cạnh cháu, thường dùng tay sờ trán của cháu thăm dò tình hình lạnh nóng; đến hơn 2 giờ khuya, cảm thấy cháu bắt đầu phát sốt cao, liền cung kính niệm một ly nước chú đại bi, kêu nó dậy cho nó uống. Nó uống xong một ly lớn nước chú đại bi, liền nói: “Bà nội! Con hôm nay đi chơi bên ngoài, sau khi ăn cơm dưới một gốc cây, chơi một chút sức khỏe liền rất không thoải mái, do vì có một thằng nhỏ đi theo con về nhà, nó nói với con, nó cũng 9 tuổi, nó là thằng nhỏ hồi năm ngoái cũng chơi ở đó bị té chết, nó bây giờ cũng còn mặc đồ học sinh, nó nói bây giờ nó rất buồn tẻ, nó muốn con cùng nó làm bạn. Bà nội! Nó hiện vẫn còn đứng trước giường muốn con đi chơi!”.

    Lúc đó lão sư tỷ nghe đứa cháu nói những lời đó rồi, bất giác run lên, lông tóc dựng đứng, nhưng không thể không tự phấn chấn tinh thần, tự nâng cao dũng khí nói: “Nhà của ta không oán không thù gì với ngươi, nếu như có oán thù đi nữa, thì oán nên mở mà không nên buộc, giờ ta niệm chú vãng sanh bố thí cho ngươi, để ngươi có thể siêu sanh thoát khổ, ngươi nên chú ý nghe!”. Lão sư tỷ liền niệm ba xâu chuỗi liền không gián đoạn đã hơn ba trăm biến, lại niệm tiếp Thánh hiệu A Di Đà Phật, không biết niệm được mấy ngàn câu, đứa cháu nội lại kêu lên: “Bà nội! Lúc bà nội niệm chú vãng sanh, nó liền đi ra ngoài cửa, vẫn còn dùng tay ngoắc con, kêu con đi ra. Mãi đến lúc bà nội niệm A Di Đà Phật thì không thấy nữa”.

    Lão sư tỷ nói:“Tôi liền rót một ly nước nóng nữa cho thằng bé này uống cho nó trấn tỉnh tinh thần, nó liền ngồi dậy nói muốn đi tiểu, nó lúc đó trong bụng vẫn còn run, hai mắt vẫn cứ chằm chằm nhìn ra cửa, sợ đến nỗi hai tay ôm chặt lấy chân của bà nội. Đến nhà vệ sinh, không dám đóng cửa, lại còn kêu bà nội đứng ngay cửa”. Lão sư tỷ nói: “Nếu không phải thiệt nhìn thấy ma quỷ, vì sao mà sợ đến như vậy? Sau khi đi tiểu về đến phòng, lại tháo mồ hôi đầy mình, sốt cũng đã lui rồi, ngủ một giấc ngon lành trời sáng thức dậy, lanh lợi lại như thường, bình an vô sự”. Lão sư tỷ lại nói tiếp: “Tôi rất cảm ơn sư tỷ, vì sư tỷ đến dạy chúng tôi niệm A Di Đà Phật, cho nên tôi mới nói cho sư tỷ nghe”.

    Tôi liền hỏi: “Đang lúc thằng bé sốt cao, quỷ phá rất nghiêm trọng, sao bà không kêu con trai và con dâu bà dậy?”. Lão sư tỷ đáp: “Vì tụi nó ngủ trên lầu, oan nghiệp đeo đuổi từ bên ngoài đến, người không tin theo Phật, không cách gì giải quyết được, nên kêu cũng vô dụng, cho nên không có kêu tụi nó”. Lão sư tỷ đã hơn 70 rồi, từ lúc nghe được pháp môn Tịnh độ, tinh thần rất tốt, căn lành sâu dày phát trí huệ lớn, luôn giữ tâm không rời Phật, Phật không rời tâm. Gần đây nghe cư sĩ A Thẩm nói: Lão sư tỷ đã vãng sanh hồi 4 năm trước rồi.

  19. 67. Ở TRONG TÙ ĐƯỢC NGHE PHÁP, KÍNH TU TỊNH NGHIỆP ĐƯỢC KẾT QUẢ

    Pháp môn niệm Phật là pháp môn không luận nam nữ, già trẻ, thông minh, ngu độn, cho đến phát tâm sớm hay muộn, tội nghiệp nhẹ hay nặng v.v… chỉ cần có lòng tin chân thật, chí nguyện tha thiết, thật tâm niệm Phật, cầu sanh Tây phương, chắc chắn đều được Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây phương. Bây giờ cử ra kỳ tích về một người phạm tội vào tù, phát tâm niệm Phật, lúc lâm chung được vãng sanh Tây phương để làm chứng thật.

    Lâm Phúc là người ở khu Đông của Đài Trung, từ nhỏ nhà nghèo, thất học, lớn lên sống bằng nghề làm thuê, tính nết lỗ mãng, không am hiểu sự lý. Vào mùa xuân Dân Quốc năm thứ 37 sau một trận mưa bão lớn, anh bị bạn xấu đến dẫn đi ăn cắp dây điện bị đứt rơi bừa bãi loạn xạ (do mưa bão). Bị bắt đưa ra tòa, ở tòa án bị phán xử mười năm tù, vào nhà tù Đài Trung.

    Vào tháng 6, Dân Quốc năm thứ 40, Liên xã ở Đài Trung phái cư sĩ Giang Ấn Thủy và Lại Luyện Lương đến nhà tù giảng pháp, do đây mà Lâm Phúc được nghe sự mầu nhiệm của pháp môn Tịnh độ, liền tin sâu, không nghi, ngày đêm chí thành niệm Phật, nguyện cầu tiêu trừ nghiệp chướng, phát nguyện sanh Tây phương. Đến tháng 12 Dân Quốc năm thứ 42, thời hạn tù đã hơn phân nửa, Lâm Phúc được tạm tha về nhà. Về sau, mỗi chủ nhật đều đến chùa Linh Sơn nghe pháp với ân sư Bính Công, mỗi thứ Hai đều đến Liên xã niệm Phật, mỗi thứ Bảy cũng đến Liên xã nghe kinh. Giang cư sĩ giới thiệu cho anh ta vào làm ban viên của ban Hàn Hương, trở thành một đệ tử Tam Bảo rất thành kính.

    Thân người là thể máu thịt do tứ đại giả hợp thành, không ai tránh khỏi mắc bệnh thọ khổ. Cư sĩ Lâm Phúc thành kính tu trì niệm Phật này cũng thế, không bao lâu mắc bệnh nặng. Bác sĩ chẩn đoán là chứng nghẽn tim, sưng thận, cả người đều đau, nhưng tâm của Lâm Phúc chẳng những không thối chuyển, mà càng tinh tấn niệm Phật hơn. Đến năm Dân Quốc thứ 43, bắt đầu từ tháng 10, mỗi khi nghe mùi đồ mặn thì nôn mửa mãi, liền đó tịnh khẩu ăn chay và càng tinh tấn niệm Phật hơn.

    Lâm Phúc mặc dầu nhất thời hồ đồ làm việc sai trái, nhưng bản tánh vốn là người con hiếu, đến tháng 12 thì bệnh anh quá nặng hết chữa, nhưng trong lòng cứ mãi nghĩ đến mẹ già 80 tuổi ở với người em trai thứ hai ở Cao Hùng. Nói ra cũng lạ, cũng vào ngày hôm đó, bà mẹ ở Cao Hùng ngồi đứng không yên, cũng tâm tâm niệm niệm mong muốn thăm con trưởng Lâm Phúc. Do tâm nghĩ nhớ tha thiết không nén được, bà lão 80 tuổi này vào ngày 20, một thân một mình đến Đài Trung, mẹ con gặp nhau buồn vui lẫn lộn, Lâm Phúc liền nói rất nhiều về niệm Phật là việc quan trọng nhất của đời người, và khuyên mẹ nên niệm Phật.

    Qua sáng ngày 21, Lâm Phúc đột nhiên cao giọng hướng về mẹ và người nhà nói: “Hiện đang có một hình ánh sáng hoàng kim như mặt trời, giống như một vòng cầu lửa đang lăn vào nhà. Mọi người xem! Cả nhà ánh sáng rực rỡ, chắc chắn là Phật đến tiếp dẫn, hãy nhanh chóng báo cho ban trưởng ban Hàn Hương và đoàn trợ niệm!”. Vừa nói vừa chắp tay lại niệm Phật. Không bao lâu sau, trong tiếng trợ niệm của các liên hữu, hơi thở yếu dần, mỉm cười ra đi. Sau 8 giờ trợ niệm, sắc mặt vẫn tươi sáng, toàn thân mềm mại, đỉnh đầu còn ấm, hưởng dương 50 tuổi, mà sự tu trì của anh thì chưa đến 3 năm, có thể được tướng lành như thế, chắc chắn được vãng sanh Tây phương không còn nghi ngờ gì. Lúc bấy giờ mọi người đều khen là ít có, khó được.

  20. 68. KHÔNG GIEO NHÂN PHẬT, ĐÂU ĐƯỢC QUẢ PHẬT

    Phàm tất cả sự việc có nhân ắt có quả, định luật nhân quả không sai tơ hào nào cả. Cũng giống như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, tuyệt không có cái đạo lý trồng dưa được đậu, trồng đậu được dưa. Người mong muốn vãng sanh Cực lạc thế giới cũng như thế, trồng cái nhân niệm Phật thì được cái quả vãng sanh Tây phương, tự mình không gieo trồng nhân Phật, dù có thiện tri thức trợ niệm cũng không nương nhờ được, lúc vãng sanh đến, phát sanh chướng ngại, tạm đưa ra một sự thật để chứng minh:

    Vào 18 năm trước, vị liên hữu Vạn Trương Bội Hoàn, chúng tôi đều gọi bà là Vạn sư huynh, nói với tôi: Có một vị đồng hương ở Đông bắc, đã hơn tám mươi tuổi, thọ mạng sắp hết, thỉnh người giúp đỡ trợ niệm. Tôi liền hỏi bà ta: “Người này lúc bình thường có tin Phật, niệm Phật không?”. Vạn sư huynh nói: “Không có, nhưng ông ta khi trước từng làm lãnh tụ hội đạo đức Vạn quốc, tôi khuyên ông ta niệm Phật là tìm được nơi trở về an ổn, là vãng sanh Tây phương, ông ta mới biết được điều tốt đẹp của Tây phương, nên mới muốn thỉnh người trợ niệm, xin sư tỷ giúp cho tìm mấy vị liên hữu ngày mai đến trợ niệm”. Sáng sớm hôm sau, tôi hẹn ba vị liên hữu cùng với Vạn sư huynh đồng đi. Ông ta ở một căn nhà nhỏ phía sau công viên. Vừa nhìn ông lão đó, thấy ông râu tóc bạc phơ và mặc một bộ đồ trắng nằm trên giường, hơi thở thoi thóp, bên mình chỉ còn một bà vợ già, chúng tôi liền bắt đầu lục tự hồng danh cứ thế niệm mãi, niệm đến trưa Vạn sư huynh liền dẫn chúng tôi về nhà, thành ý chiêu đãi ngọ trai, sau giờ ngọ lại đi niệm, niệm đến tối mới nghỉ.

    Ngày hôm sau Vạn sư huynh lại đến nói: “Lâm sư huynh (Lâm Khán Trị), ông lão hôm qua chúng ta niệm cho nghe danh hiệu Phật một ngày, bây giờ đã tỉnh táo, tự trong tâm ông ta cũng đã biết niệm rồi, lại còn nói trưa ngày mai Phật A Di Đà sẽ đến tiếp dẫn, quyết định là 12 giờ sẽ đi, xin sư huynh sáng mai hẹn nhiều nhiều vị liên hữu đến nhà ông ta niệm Phật, đưa ông ta vãng sanh Tây phương, được không ạ?”. Tôi lập tức nhận lời, do vì lòng hiếu kỳ thúc đẩy, tôi liền đến tuyên truyền với các vị liên hữu nói ông ta biết trước giờ đi, mời hẹn ngày mai đi trợ niệm, để xem tướng lành vãng sanh Tây phương của ông ta.

    Qua ngày kế, trước giờ ngọ (10 giờ), hơn mười vị liên hữu, nhứt tâm nhứt ý trợ niệm cho ông ta, và cầu nguyện Phật A Di Đà từ bi tiếp dẫn ông lão này vãng sanh Tây phương Cực lạc thế giới. Vạn sư huynh cũng thắp hương không ngớt cầu nguyện khấn vái, mọi người đều dụng tâm thành khẩn như thế trợ niệm. Lúc đó ông lão này mặc một bộ đồ trắng, đắp một miếng vải trắng, trạng thái ngủ mê, thở hổn hển mãi, đến 11 giờ bao nhiêu con mắt chăm chú nhìn, tiếng niệm Phật càng lớn; đến 11 giờ 50 phút, ông già đó bỗng nhiên tỉnh dậy mở miệng hỏi người hầu nam ở bên mình rằng: “Bây giờ là mấy giờ?”. Người hầu nam đó đáp rằng: “11 giờ 50 phút” Ông lão mặt mày hớn hở, nói một cách sung sướng nhẹ nhàng: “Còn 10 phút nữa Phật A Di Đà đến đón tôi đi rồi!”. Vừa nói ông ta vừa đảo mắt nhìn một vòng bày tỏ rất cám ơn mọi người đã vì ông ta niệm Phật.

    Ai có ngờ được trong giây phút ngàn cân treo sợi tóc và phân biệt Thánh phàm này lại xẩy ra chướng ngại. Đang lúc chúng tôi nhứt tâm niệm Phật, thì người hầu nam kia đi lấy một vật trong đống giấy tờ đã được chuẩn bị xong, rất nhanh nhẹn đốt trước mặt ông già, trong nháy mắt đã đốt xong. Bà vợ già của ông như giựt mình, không kềm được lòng, bước xông lên vội vàng đưa tay ra sờ sờ mặt của chồng bà, vừa khóc vừa nói: “Ông đi Tây phương bỏ tôi ở lại một mình, phải sống thế nào đây?”. Vạn sư huynh lập tức ngăn bà ta lại nói: “Tôi đã dặn với bà rồi, lúc ông sắp vãng sanh, bà không được khóc lóc lưu luyến, hoặc là động đến mình ông ta, bà quên rồi sao?”. Đúng ngay lúc 12 giờ, ông lão mở to mắt ra nói: “Thưa Phật A Di Đà, tôi không đi Tây phương nữa đâu, do vì nếu tôi đi Tây phương, để bà bạn tôi ở lại có một mình thì làm sao? Cho nên tôi không đi nữa!”. Lúc đó các vị liên hữu vẫn cứ gắng sức niệm nhưng cũng không sao chuyển được ông ta! Mặc dù rất là thất vọng, cũng tiếp tục niệm hơn nửa giờ nữa, lúc đó nhìn xem ông lão nói năng lộn xộn, trạng thái tinh thần đã trở nên rối loạn không còn rõ ràng nữa! Ai cũng tội nghiệp cho ông ta, tiếc than cho ông ta, rồi ai về nhà nấy.

    Đêm đó khoảng hơn 10 giờ, Vạn sư huynh lại đến nhà tôi kêu tôi đi niệm Phật cho ông ta, tôi hỏi: “Ông ta sao rồi?”. Bà nói: “Tâm thần tán loạn, sức khỏe biến đổi xấu, đại khái có dáng rất đau khổ, nhưng ông ta vẫn còn rất hy vọng nghe người niệm Phật”. Tôi liền lại cùng Vạn sư huynh đi đến nhà ông lão, vào cửa liền nhìn thấy ông lão đang khạc ra máu và dùng tay móc trong miệng ra máu từng cục từng cục, làm dơ đầy giường vết máu tanh. Tôi và Vạn sư huynh hai người lập tức lại niệm Phật to tiếng lên, niệm đến hơn 11 giờ, thấy ông ta cứ mê mờ, không còn cách nào liền trở về nhà. Khi trời chưa sáng thì ông ta vẫn cứ mờ mờ mịt mịt như thế về âm phủ!

    Trong kinh nói: Thân người khó được, thiện hữu tri thức khó gặp. Ông lão này thân người khó được, đã được lại trường thọ, càng khó được hơn là sự nhiệt tâm chỉ dạy của thiện tri thức Vạn sư huynh. Nhưng cái điều không may nhất là cái khoảnh khắc giáp giới giữa Thánh nhơn và phàm phu, lại bị vợ không nghe lời dặn, khởi ra chướng ngại, tội nghiệp cho ông ta lại bị trở vào chìm nổi trong luân hồi, đây cũng giống như: “Lúc bình thường không thắp hương, đến khi gặp chuyện ôm chân Phật cầu cứu”. Mặc dù lúc bình thường là người chánh nhân quân tử, đạo đức, tâm tốt thì tốt, nhưng chưa gieo nhân Phật thì đâu được quả Phật! Lấy như chuyện này có thể chứng minh.

  21. 69. NHỜ THIỆN TRI THỨC KHAI ĐẠO, NGƯỜI MÙ ĐƯỢC SANH TÂY PHƯƠNG

    Cuối cùng lại nói về chuyện một người mù, lúc bình thường làm đủ việc ác, lúc lâm chung lại do được thiện tri thức khai thị cũng được sanh Tây phương làm bằng chứng.

    Đây là việc 19 năm về trước, có một lần ban trưởng của ban trì giới Bảo Tông Cô đến Tân Trúc thăm bà con, không ngờ bị bệnh nơi đất khách, tôi và phó ban trưởng là Thạch Tô liền cùng đi thăm bà ta. Buổi chiều ngày đó hai người chúng tôi liền đến chùa Linh Ẩn ở hồ Thanh Thảo nghỉ qua đêm. Do vì thầy Vô Thượng là sư phụ quy y của tôi hồi nhỏ, ăn cơm tối xong bắt đầu nói chuyện. Tôi hỏi: “Sư phụ, thầy xuất gia nhiều năm rồi, thầy có từng thấy qua chính xác người được vãng sanh Tây phương chưa?”. Sư phụ nói liên tiếp: “Có! Có! Thầy đã từng thấy qua người vãng sanh thật, lúc lâm chung hiện ra kỳ tích có hai người”.

    Sư phụ nói: “Trước đây không lâu, lúc thầy đang nhập thất ở động Kim Cang, có một bà già hơn 70 tuổi, là người xuất gia ở trong chùa, bà là một người mù, đến lúc bị bệnh toàn thân sưng phù, bà đến động kêu khóc ầm ĩ nói là sắp chết, kêu thầy cứu bà ta thoát khổ. Thầy không biết thế nào đành phải ra thất về chùa, mắt nhìn thấy liêu phòng của bà cứt đái bẩn thỉu hôi khai không chịu nổi, lại thấy bà lớn tiếng kêu gào rằng: “Chẳng kể ngày đêm gì đều có mười mấy người đánh bà, lại kêu ra tên của những hồn oan gia. Có một lần có người bà con ngoài đời của bà đến, sư phụ liền hỏi: “Mấy cái tên mà thím kêu gào ra đó, cô có biết không?”. Cô ta nói: “Biết! Những người đó đều là những người bị bà hại chết lúc bà còn trẻ”. Chả trách bị oan hồn đánh đến toàn thân sưng phù tét da đổ máu.

    Sư phụ đại từ đại bi liền nghĩ ra phương pháp cứu bà ta, quét dọn căn phòng trống, khoét một lỗ trên tấm ván của giường, phía dưới đặt một cái thùng, có thể đi vệ sinh được tiện lợi. Mặc dù đã đổi phòng như thế cho bà rồi, bà vẫn kêu la có mười mấy người đánh bà, thầy Vô Thượng nói: “Điều kỳ lạ nhất là cái người trước khi sắp chết không thể hoạt động này, lại tự mình tại sao lộn đầu trồng chuối xuống được, đầu mặt chun qua cái lỗ trên giường đụng thùng phân ở dưới”. Sư phụ mặc dù học Thiền tông, đến lúc đó cũng không có cách gì, bèn phương tiện khéo léo kêu tên bà: “Phổ Kiết Cô à! Bà phải niệm A Di Đà Phật mới vãng sanh Tây phương lìa khổ được vui”. Lúc đó Phổ Kiết Cô nói: “Một màn tối đen à, tôi niệm không được”, Sư phụ nói: “Tôi niệm một câu A Di Đà Phật, bà niệm theo tôi một câu A Di Đà Phật”.

    Đúng y như vậy, sư phụ niệm một câu, bà ta liền niệm một câu, niệm khoảng hơn nửa giờ, Phổ Kiết Cô bỗng nhiên lộ nét cười, kêu một tiếng: “Sư phụ! Bây giờ thì đã là một màn ánh sáng, mười mấy oan hồn “vô hảo tử” kia vẫn còn đứng đàng kia cười!”. Trong khoảnh sát na mười mấy oan hồn kia liền mượn miệng của Phổ Kiết Cô nói: “Cám ơn lòng từ bi của sư phụ rất nhiều! Một bà già mù tội ác to lớn, hôm nay cuối cùng mười mấy người, chúng tôi thoát khổ rồi”. Sư phụ tức thời đáp rằng: “Đúng, oan gia nên mở không nên buộc, các ngươi cũng phải niệm A Di Đà Phật theo để được đới nghiệp vãng sanh mới thoát ly được cái khổ lớn của sanh tử”. Sư phụ lại kêu Phổ Kiết Cô nói: “Bà phải bình tâm tĩnh trí niệm A Di Đà Phật, tiếp tục niệm theo tôi đi!”. Lại niệm mãi khoảng hơn một giờ, Phổ Kiết Cô lại nói: “Sư phụ! Bây giờ đã ánh sáng đầy trời, ở trong mây có những người mặc đồ trắng cầm cờ trắng muốn tiếp dẫn tôi đi Tây phương Cực lạc thế giới”. Lúc đó bà chắp hai tay lại hướng lên hư không mỉm cười, an tường mà đi, từ đây, một kẻ phàm phu tội nghiệp đầy mình, thoát ly được biển khổ Ta Bà, đới nghiệp vãng sanh Liên bang tiêu diêu tự tại.

    Sư phụ Vô Thượng lại nói: “Lúc bình thường bà già này rất ác khẩu, kết duyên ác khắp cả đại chúng, suốt ngày mắng người không ngớt miệng, cô thử nghĩ xem bà ta lúc sắp lâm chung còn mở miệng mắng những oan hồn kia là những oan hồn “vô hảo tử”, bây giờ lại cười rồi. Có một điều kỳ diệu nhất là lúc bà ta vãng sanh Tây phương, toàn thân sưng phù, chảy máu chảy mủ như vậy mà tức thời sạch sẽ tiêu mất hết, không có chút mùi hôi nào, thật là một tướng lành không thể nghĩ bàn”.

    Tôi nghe xong câu chuyện thật vãng sanh Tây phương của sư phụ kể khiến chánh nhơn tu trì của tôi về tịnh nghiệp được tăng trưởng, tín tâm rất nhiều, do đó mà vui mừng hớn hở, sau khi trở về Đài Trung liền đến nhà cư sĩ Hoàng Hỏa Triều kể lại cho hai vợ chồng họ nghe. Ai ngờ vợ chồng họ vì tâm hiếu kỳ thúc đẩy, kêu tôi dẫn họ lại hồ Thanh Thảo lần nữa, đích thân nghe việc đó với sư phụ. Sư phụ lại còn kể một chuyện vãng sanh khác, tôi vì nhớ không rõ nên không dám ghi ra.

    Chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay tạo các ác nghiệp, nổi chìm không ngớt trong lục đạo, người không thoát ly được, chính là oan nghiệp làm chướng ngại, nhân duyên hội ngộ, báo ân báo oán, đòi nợ trả nợ vướng mắc muôn kiếp không hết. Nếu muốn cởi mở oan kết, ngoài niệm Phật ra, tuyệt không có đường khác. Học nhơn (khiêm xưng) từ khi được ở trong hàng học trò của Bính Công ân sư, được thầy dạy dỗ hơn 20 năm pháp môn Tịnh độ thật vô cùng may mắn, mỗi khi nghĩ nhớ ơn thầy sâu như biển, nặng như núi, không lấy gì báo đáp được, không biết thế nào mà thời gian tàn phá con người, bỗng chốc mà tóc bạc da mồi, dáng già lọm khọm tuổi đã 63, số ngày còn lại không nhiều, một hơi thở không trở lại thì đã qua đời khác, tiếp tục đầu thai lại không biết sẽ vào thai lừa hay vào bụng ngựa, luôn luôn thấp thỏm lo âu sợ hãi và cảnh giác nhiều, cho nên đem những điều mắt thấy tai nghe nhiều năm, không nệ văn chương vụng về, căn cứ theo sự thật mà viết ra, nguyện cùng với người niệm Phật đồng sanh Cực lạc quốc, đồng thời nguyện đem công đức này hồi hướng cho ân sư Bính Công, ở đời vạn năm dạy dỗ quần sanh, thì pháp môn được may mắn lắm, chúng sanh được may mắn lắm!

  22. 70. TRONG MỘNG ĐƯỢC BÁC SĨ CẮT LÁ GAN CỨU CHỮA, VÀ CHUYỆN CỨU ĐỘ NHỮNG CON RỆP

    Liên tiếp mấy tháng có một vị buôn cải họ Trương tên là Xuyên Dã, nhà ở đường Đại Trí khu Đông thành phố Đài Trung, thường đưa rất nhiều trái cây và rau xanh đến liên xã của Phật giáo ở Đài Trung để cúng dường, số lần đem đến như thế rất nhiều, các vị liên hữu không cầm được mới đối mặt anh ta cám ơn những ân đức cúng thí đó. Anh ta đáp lại rằng: “Tôi đến là để đáp tạ ân Phật, đây là điều nguyện tôi đã phát trong khi bệnh, do vì Phật A Di Đà trị lành bệnh của tôi, ân đức đó thật quá lớn”.

    Thế là Trương cư sĩ chậm rãi kể lại chuyện niệm Phật được cảm ứng của anh ta và chuyện bác sĩ cắt lá gan trị bệnh cho anh ta trong giấc mộng. Anh ta nói: “Mười năm trước tôi làm thợ ở hãng giày, có một cô kế toán của hãng cho tôi một quyển “Phật học thiển thuyết” (thiển thuyết như giản thuyết, là nói lược), tôi xem xong cảm thấy Phật pháp vô biên, cứu người giúp đời, liền chạy đến thư cục Thụy Thành mua hai bộ sách Phật, một bộ là “Ấn Quang pháp sư văn sao”, một bộ nữa là “An Sĩ toàn thư”. Như được vật chí bảo, đêm nào cũng đều xem tới khuya, có thể nói là được pháp hỷ vô lượng”.

    Lúc đó tôi mướn một căn nhà ở, giường ở trong nhà, đầy giường và cột rệp quá chừng, mới đầu tôi bắt từng con đạp chết, nhưng càng đạp nó lại càng nhiều. Lúc đó đang xem đến một đoạn trong Ấn Quang đại sư văn sao, trong phòng của đại sư cũng rất nhiều rệp, có một đệ tử thỉnh ý xin dọn sạch, đại sư không chịu, người đệ tử sau mấy tháng lại xin một lần nữa và hỏi đại sư về tình hình của rệp. Ấn Quang đại sư nói: “Hết thảy ra khỏi khổ hết rồi, bây giờ không có nữa”. Tôi xem đến đoạn nhỏ này thì không còn bắt rệp đạp chết nữa mà bắt từng con ra hố phân thả. Nhưng sau khi đem rệp đi thả thì có nhiều phiền toái, không dám giết hại, không dám rải thuốc diệt trùng tiêu diệt thì nó lại lộng đến mức đụng chỗ nào cũng rệp, thật không biết làm thế nào? Đang trong tình hình không biết làm thế nào đó thì bỗng nhiên nghĩ đến bắt chước ngài Ấn Quang pháp sư, thế là hướng vào các con rệp nói rằng: “Này rệp! Nếu ta thành Phật sẽ độ các ngươi thoát khổ trước, nhưng ta bây giờ là phàm phu, là người niệm A Di Đà Phật, ta nay dạy các ngươi cũng niệm A Di Đà Phật, cầu sanh Tây phương. Rệp! Ta niệm các ngươi cũng niệm theo: “A Di Đà Phật”… cứ thế niệm mãi. Dạy cho rệp niệm A Di Đà Phật như thế chưa quá hai tuần, kỳ tích khiến người khó mà tin được xuất hiện. Có một hôm dọn dẹp làm sạch sẽ phòng, giở chiếc chiếu lên, nói ra cũng thật lạ, những con rệp đếm không hết kia, không biết nhảy đi đâu hết rồi, không thấy một con nào. Việc không thể nghĩ bàn như thế, khiến tôi cũng không hiểu ra sao”.

    Cư sĩ Trương Xuyên Dã lại nói: “Tôi trước kia mê rượu như mạng sống, mỗi ngày phải uống hai, ba bình rượu. Năm năm trước bị bệnh gan, Đông Tây y gì cũng đều đã trị qua nhưng không thấy chút hiệu quả nào, nằm bệnh viện triền miên mấy tháng. Lúc bệnh hết cách cứu chữa, trong lòng chỉ có cầu Phật tiếp dẫn vãng sanh Tây phương, có mấy lần đã cận kề với cái chết, ngồi trên giường niệm Phật, lúc niệm không ra tiếng, liền dùng tâm niệm thầm, kỳ tích thật không thể nghĩ bàn lại xuất hiện. Tối hôm đó lúc nửa tỉnh nửa mơ nhìn thấy một vị bác sĩ mặc đồ trắng tay mặt cầm một con dao bén, tay trái cầm một lá gan, dùng dao mổ banh dưới ngực bên phải của tôi ra, rồi lấy kéo cắt lá gan, bác sĩ mỉm cười cầm lá gan vừa hôi vừa nát rữa đưa cho tôi xem, rồi lại lấy lá gan mới của bác sĩ mang lại đặt vào trong bụng của tôi, rồi đi. Vừa thức dậy tôi cảm thấy nhẹ nhàng dễ chịu rất nhiều, tôi liền phát nguyện: Nếu tôi được mạnh khỏe, nhất định sẽ báo đáp ân Phật, làm nhiều việc cúng dường Bồ Tát, nếu như có khả năng sẽ xuất tiền ra đắp áo vàng cho Phật. Từ năm ngoái đến nay dần dần bình phục lúc nào không hay, mạnh khỏe lại như thường”.

    Trương Xuyên Dã lại nói: “Phật A Di Đà bảo hộ cho tôi có thể nói là rất tỉ mỉ, lại có một lần tôi chạy xe đạp đến đường Thành Công, bỗng nhiên có một chiếc xe mô tô lớn chạy lại như bay, xông xáo ẩu tả đụng ngã xe của tôi rồi cán qua, trong lúc ngàn cân treo sợi tóc đó, trong tích tắc tôi la to lên một tiếng A Di Đà Phật, rồi không biết tôi nhảy đi thế nào xa hơn một trượng, an nhiên vô sự. Còn chiếc xe mô tô kia cả người lẫn xe đều té ngã trên đất bị thương rất nặng, gãy xương, tét thịt, máu chảy đầy đất rất là tội nghiệp.

    Người chơn tâm niệm Phật, tự mình sẽ được lợi ích không thể nghĩ bàn, xin khuyên các vị mau niệm Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát.

  23. 71. SỰ LINH ỨNG MẦU NHIỆM LÚC TRỢ NIỆM CHO MẸ VÃNG SANH TÂY PHƯƠNG

    Cơ sở hoằng pháp Vụ Phong của Liên xã Phật giáo ở Đài Trung có một vị liên hữu tên Tằng Lâm Hiệp, mọi người đều gọi cô là sư tỷ Hiệp. Nhà ngoại của cô ở số 57 thôn Đồ Thành, làng Đại Lý huyện Đài Trung, mẹ tên là Lại Vật, do được con gái khuyên dắt không ngừng nên thâm tín Phật giáo, là một vị lão tu hàng ngày niệm Phật cầu sanh Tây phương.

    Sư tỷ Hiệp có một người em trai tên là Lâm Vạn Thành, ưa thích săn bắn, bà mẹ từ sau khi tin Phật thường khuyên dạy con trai rằng: “Vạn Thành à! không luận là những con vật lớn hay nhỏ, đều biết tham sống sợ chết, chúng nó với con không oán không thù, con làm hại nó, bắn giết nó, sao nhẫn tâm làm vậy? Điều làm mẹ bận tâm, chính là con sát hại sanh mạng tạo nghiệp như thế!”. Nhưng mà tập khí của Vạn Thành khó sửa, nói như gió thổi qua tai ngựa, căn bản là không nghe những lời nói này của bà mẹ.

    Đời người có sanh ắt có tử. Thời kỳ vãng sanh của lão tín nữ Lại Vật đã đến, sư tỷ Hiệp thỉnh sáu vị liên hữu ở cơ sở hoằng pháp Vụ Phong phân ban ra phụ trách trợ niệm. Lão tín nữ Lại Vật hưởng thọ bảy mươi chín tuổi, mỉm cười quy Tây vào lúc 3 giờ chiều ngày 17 tháng 5 ÂL, các nhân viên trợ niệm sau khi lão tín nữ vãng sanh, niệm tiếp tám giờ nữa, niệm xong mọi người lưng đẫm mồ hôi. Sư tỷ Hiệp lúc đó đang đứng hóng mát ở dưới cây trước cửa lớn, liền thắp nhang khấn thầm rằng: “Má! Má có thể an tâm đi Tây phương được rồi, nhưng lúc này cần phải hiển bày một chút kỳ tích khiến cho Vạn Thành và con Ngọc (con dâu) biết sửa lỗi lại tu hành”. Đang lúc đó bỗng nhiên “Pằng! Pằng! Pằng!”, ba tiếng nổ to như sấm chói lỗ tai, mọi người đều hoảng sợ giật mình! Thì ra là cây súng săn để trong tủ áo trong phòng của em trai Vạn Thành bị cướp cò (tự nhiên nổ) và bốc cháy, ngọn lửa trong tủ áo cháy lan ra ngoài, đến cái mùng trên giường, mọi người đều vội vã đi lấy nước lại cứu hỏa. Tháng 5 năm đó là trời hạn, mấy lu nước đều dùng sạch, đang lúc ngàn cân treo sợi tóc đó thì có một người chở một xe bò nước đến trước cửa, nhờ đó hóa giải được nguy hiểm. Tra xét lại xem thì là cây súng săn phát hỏa, quần áo đồ đạc bị đốt thành tro, bươi tìm trong đống tro được một cái bao giấy, mở ra xem thì là giấy tờ quyền sở hữu nhà đất và tiền mặt 20.000 đồng, đây là tiền chuẩn bị sẵn lo đám cho mẹ của sư tỷ Hiệp, vẫn còn nguyên phong chưa bóc ra, không có bị cháy hư một chút nào hết.

    Vợ của Lâm Vạn Thành tên là Ngọc lúc đó đang ngồi trên ghế mây dựa dưới hành lang, bỗng nhiên hai mắt nhìn thẳng trong hư không, bất tỉnh nhân sự. Mọi người cho là vì bị giựt mình quá mà hôn mê, các vị liên hữu liền to tiếng niệm cầu đức đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát, và cũng phái người đi mời bác sĩ Khôn Hải đến tiêm thuốc. Lúc bác sĩ đến thì A Ngọc đã tỉnh táo rồi, cô ta nói với mọi người rằng: “Những lời các vị vừa nói, tôi nghe rõ từng câu, muốn nằm xuống thì dường như có người kéo không cho nằm xuống, mắt nhìn thấy trong hư không một vầng kim sắc quang minh giáng lâm, chính là Phật A Di Đà tiếp dẫn má chồng tôi; má chồng tôi mặc áo bào đen lớn, tay cầm chuỗi, mặt mày tươi vui, nương kim sắc quang minh theo Phật A Di Đà bay về Tây phương”. Sư tỷ Hiệp liền hỏi cô ta: “Phật A Di Đà hình dạng như thế nào?”. A Ngọc đáp: “Giống như bức tượng vẽ lớn Đức Phật A Di Đà mà chúng ta cúng dường, nhưng Đức Phật A Di Đà trong hư không, trang nghiêm, đẹp hơn nhiều”.

    Các vị bằng hữu, Phật pháp vô biên thật là không thể nghĩ bàn! Tại sao cây súng tự nhiên phát hỏa? Tiền và giấy tờ sở hữu nhà đất tại sao lửa không cháy được? Lại cảnh Phật A Di Đà tiếp dẫn người mất khiến cho người con dâu không có căn lành được chính mắt nhìn thấy lâu đến mười phút? Nếu như chỉ có đốt cây súng, không thấy được kim thân Phật A Di Đà thì không thể độ được A Ngọc phát tâm tin Phật như hiện nay, riêng một mình A Ngọc chính mắt thấy mẹ chồng vãng sanh, nếu như không đốt tiêu cây súng săn thì cũng không trừ hết được tập khí ác săn bắn của Lâm Vạn Thành đổi ác làm lành, thật là sự linh cảm kỳ diệu tột bậc.

    Chúng sanh nổi chìm trong biển khổ sanh tử rất là đáng thương. Mong rằng mọi người thật tâm niệm Phật, khuyên người niệm Phật, phát tâm Bồ đề cứu nhân độ thế, lấy tự thân mình làm chiếc thuyền độ sanh trong đời này, chở khắp hết chúng sanh đồng đến Hải hội Liên trì.

    Hãy niệm: Nam mô A Di Đà Phật!

  24. 72. VONG HỒN QUẤN QUÝT THEO QUẤY PHÁ, NIỆM PHẬT ĐƯỢC GIẢI OÁN KẾT

    Một câu Nam mô A Di Đà Phật là thuốc A Già Đà trị hết muôn bệnh. A Di Đà Phật lại là đại chú vương, xưng niệm hoan hỷ thì giải được oán kết, gặp dữ hóa lành. Đoạn văn dưới đây chính là câu chuyện niệm A Di Đà Phật giải thoát được vong hồn quấn quýt theo quấy phá.

    Năm năm trước ở một khu đất phồn hoa náo nhiệt ở thành phố Đài Bắc có một thanh niên phóng xe như bay chở một cô gái đẹp, chạy như giông như gió lạng lách ẩu tả, đến nỗi cô gái chở phía sau bị té xuống chết cũng không hay, lúc đó có rất nhiều nam nữ hiếu kỳ vây lại xem, mọi người đang lúc tội nghiệp cho cô gái này, bỗng có một người đi đến kêu to: “A Tam! A Tam!”, trong những người đứng xem có người tên A Tam liền ứng thinh đáp to: “Tôi đến đây, tôi đến đây!”. Nguyên vị A Tam này là thợ hớt tóc trong tiệm hớt tóc gần đó, do vì có khách muốn hớt tóc cho nên ông chủ cho người học việc đi kêu A Tam về hớt tóc cho khách.

    Tục ngữ có câu “Trời có bão táp không lường, con người có họa phúc trong sớm tối”. A Tam, anh chàng thanh niên tốt, sống có khuôn phép này bắt đầu từ tối hôm đó, sau nửa đêm ở trong cảnh giới nửa tỉnh nửa mê nhìn thấy một cô gái đẹp đến rủ anh ra ngoài chơi, liền mở cửa sau đi theo cô ta. Đến khi trời sáng, một mình A Tam ngồi ngủ gật dưới cột điện, bị người ta phát hiện mới kêu anh ta thức dậy đi về. Liên tục một tuần lễ như thế, ban ngày làm việc, ban đêm cô gái kia đến dẫn đi chơi, sáng sớm đều nằm ngủ gật trên đất bên ngoài. A Tam tự thấy không ổn, liền bỏ việc về quê.

    Quê của A Tam ở trên núi, thôn Đồng Lâm, Bắc Cấu Khanh, Vụ Phong, Đài Trung. Nhà có một mẹ già mù lòa và mấy anh em. A Tam về nhà qua ngày sau phụ giúp với ông anh cả, dùng xe tải hàng ra ngoài chở hàng cho người ta, đến tối về nhà. Bà mẹ liền kêu A Tam đến trước mặt nói: “Con mỗi lần lúc sắp ra ngoài. Mẹ đều dặn dò bảo con ở bên ngoài không nên kết giao tùm lum với con gái, con lại cứ không nghe. Con mới về ngày hôm qua, hôm nay đã có con gái đến kiếm, cái tiếng đi mang giày cao gót, lại còn miệng kêu A Tam, A Tam không ngớt! Mẹ hỏi là ai muốn tìm A Tam cũng không trả lời”. A Tam liền đáp với mẹ mình rằng: “Mẹ à! Con từ nào đến giờ ở bên ngoài sống có khuôn phép đàng hoàng, chưa từng kết giao với cô gái nào”. Tức thời liền cùng với mấy anh em của anh ta đi tìm kiếm bên trong bên ngoài nhà đều tìm không ra bóng dáng cô gái nào. Nhưng tối hôm đó vào nửa đêm thì cô gái lại đến cùng A Tam mở cửa sau ra ngoài chơi, sáng sớm A Tam lại ngồi ngủ gật dưới cây, thế là lại bị người kêu tỉnh dậy. A Tam ở Đài Bắc trong một tuần lễ, mỗi đêm đều bị chuyện như thế xảy ra, nhưng tự mình không biết là thế nào, bây giờ về ở nhà quê cũng là như thế, không biết có cách gì mới có thể giải quyết?

    Lúc bấy giờ ở trên núi thôn Bắc Đồng Lâm, mọi người đều tin thờ một tượng Vương Gia Công. Mẹ của A Tam liền đi mời đồng cốt và thỉnh Vương Gia Công về hỏi bệnh của A Tam là bệnh gì? Thì ra thần cũng có chút thần thông, thần dựa vào đồng cốt nói: “Bệnh của A Tam là do mười ngày trước đây ở chỗ nào đó của Đài Bắc nhìn thấy một cô gái té chết bên đường, người bạn trai dùng xe chở cô gái này tên là A Tam. Lúc đó có người gọi to A Tam thì vị A Tam này của chúng ta cũng to tiếng trả lời “Đến
    đây! Đến đây!”. Lúc đó hồn cô gái bị té chết đang trong lúc mênh mang mù mịt không có chỗ nương, nghe được cái tên A Tam, tức thời quấn theo không buông”. Đồng cốt nói tiếp: “Cách tốt nhất là đưa u hồn của cô ta về Đài Bắc”. Mẹ của A Tam lại nói “Phải dùng cách gì để đưa?”. Đồng cốt lại nói: “Phải dùng hình nộm (rơm)”. Tức thời dùng rơm làm thành một hình người, cao khoảng bốn thước (thước Tàu) mặc áo đỏ quần đen, chân cũng mang giầy, trên đầu buộc một chiếc khăn bông, vẽ mày, mắt, miệng, mũi, vào lúc sau nửa đêm, Vương Gia Công với đồng cốt đưa hình nộm này đến bên trạm xe, buộc vào dưới cột điện, đồng cốt liền đốt rất nhiều giấy vàng bạc ở đó kêu u hồn ngồi chuyến xe thứ nhứt đến Đài Bắc tìm người yêu của mình là A Tam.

    Hình nộm người con gái buộc ở dưới cột điện, những người qua lại ở xa xa đã có thể nhìn thấy rồi. Ở dưới cột điện có một người con gái đẹp đứng ở đó bất động, đi lại gần nhìn mới rõ là hình nộm làm bằng rơm, làm sáng sớm hôm cô bị giật mình sợ đến hồn bất phụ thể, có thể nói sợ lớn bệnh lớn, sợ nhỏ bệnh nhỏ. Cô gái bị giật mình hoảng sợ té ngã hôn mê đó là một cô nữ sinh cao đẳng năm thứ ba họ Chu tên là A Lập. Sáng sớm mỗi ngày khi trời còn chưa sáng đã phải chạy xe đạp xuống núi, từ con đường thôn Đồng Lâm đi ngang qua Bắc Cấu Khanh, rồi lại từ Vụ Phong chuyển đến thành phố Đài Trung đi học, chuẩn bị thi đại học. Đó là một cô gái trẻ 19 tuổi tài năng và học vấn đều giỏi. Chu A Lập sáng sớm hôm đó sương mù trắng xóa mù mịt, xa xa thấy một cô gái trẻ, trong bụng nghĩ lạ quá, còn sớm như vậy đứng ở đó làm gì? Đang lúc không biết là cái gì đó thì xe đã đến qua đó, vừa xem biết là hình nộm mặc áo, tức thì lông tóc dựng đứng, đầu cảm thấy to lên như cái đấu, sức khỏe không chịu đựng được nữa, không thể đi học được, lại quay về nhà. Bắt đầu bị bệnh luôn không dậy được, đầu đau như muốn vỡ kêu khóc ầm ĩ, muôn phần đau đớn, trong một ngày mời về mấy vị Đông, Tây y bác sĩ, đều chẩn đoán không ra bệnh.

    Người dân trên núi nơi A Lập ở này đều tin thờ Thái Tử Gia. Cha của A Lập liền đi thỉnh Thái Tử Gia đến cầu xin đạp đồng lên chỉ bảo. Thái Tử Gia này có thể nói là khá thông minh, ông ta dựa vào đồng cốt nói: “Cái đầu đau của A Lập thuốc men trị không hết được đâu, ta cũng không có cách nào trị lành được, do vì có một con quỷ nữ quấn theo quấy phá, thần không có cách đuổi đi, cần phải thỉnh bậc chân tu đến tụng kinh niệm Phật, siêu độ cho nó thoát khổ, đó mới là biện pháp rốt ráo (tốt nhất)”. Cha của A Lập lại hỏi Thái Tử Gia rằng: “Phải đi đến nơi nào thỉnh bậc chân tu?”. Thái Tử Gia dựa vào đồng cốt nói: “Gần thì trước mắt, xa thì ngàn dặm”. Cha của Chu A Lập tức thời nghĩ đến sư phụ Phổ Độ ở trên núi đối diện (em gái của cô Chơn tức cô Phụng đã thế phát thọ giới, truyện 27, 28, 29) và cô Chơn, hai người là chân tu hành. A Lập vẫn cứ đau đầu chịu không nổi, cha và anh của cô hai người liền đỡ cô đi gặp sư phụ Phổ Độ và cô Chơn, rồi nói rõ lại những lời của Thái Tử Gia lên đồng đã nói, xin nhờ giúp cho việc tiêu tai bạt độ.

    Sư Phổ Độ và cô Chơn tức thời tụng một quyển Kinh Di Đà, 49 biến chú vãng sanh, tụng chú đại bi, Bát nhã Tâm kinh mỗi thứ 7 biến, hồi hướng bố thí cho nữ quỷ được siêu sanh thoát khổ, và cho A Lập một xâu chuỗi, dạy cô cách niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, niệm một câu lần một hột. Lại thuyết minh tiếp: “Một câu A Di Đà Phật chính là đại chú vương, muốn tránh tà tự mình niệm mới kết quả, tự mình liền có thể tiêu tai khỏi nạn do vì tà ma quỷ quái không dám lại gần”. A Lập nghe xong thấy rất có đạo lý, vô cùng cám ơn, về nhà liền gắng sức niệm Thánh hiệu “A Di Đà Phật” mãi, niệm luôn mấy giờ, đầu nhẹ nhàng như thường lúc nào không hay. Ngược lại, mẹ của A Lập kêu to đau đầu, liền kêu A Lập đem xâu chuỗi đến cho mẹ mượn niệm. Cũng lần từng hột niệm một câu A Di Đà Phật… niệm được mấy giờ khỏe rồi, nhưng cái đầu của A Lập lại đau trở lại, lại đòi xâu chuỗi trong tay của mẹ lại niệm. Cha của A Lập liền chạy qua cô Chơn lần nữa nói rõ sự việc và xin thỉnh xâu chuỗi nữa, cô Chơn một lần nữa dặn dò ông: “Niệm Phật, không phải tay cầm chuỗi mới có thể niệm được. Không có chuỗi và ở bất cứ chỗ nào, bất cứ lúc nào đều có thể niệm, chỉ ở trong giấc ngủ hoặc đang trong nhà xí thì không thể niệm ra tiếng, nhưng phải nhớ niệm thầm, cũng không phải đợi lúc đau mới niệm, lúc bình thường không kể là nam hay nữ, già hay trẻ đều phải niệm, càng niệm càng tiêu tai, tăng thêm phước thọ”. Về sau cả nhà A Lập bình an, đối với sư Phổ Độ và cô Chơn rất là cảm đội ơn đức và tin sâu Phật pháp vô biên, không thể nghĩ bàn.

    Chúng ta nói trở lại câu truyện hình nộm mặc đồ kia, hai ngày nay đứng bất động dưới cột điện, một truyền ra mười, mười truyền ra một trăm, một trăm truyền ra một ngàn, người trên núi không có người nào dám đi qua đó, ông trưởng thôn bèn đi đến nhờ cô Chơn, nói: “Các sư cô, cứu người thì phải cứu đến nơi đến chốn, cái hình nộm mặc đồ buộc luôn ở đó là điều lành ít dữ nhiều, trong làng không có người nào dám đụng đến nó, xin các sư cô phát tâm từ bi mở nó ra đốt bỏ đi để tránh gây ra nhiều tai ương. Xin nhờ! Xin nhờ!”. Sư Phổ Độ và cô Chơn liền nhận lời nói: “Được rồi, sáng sớm ngày mai bắt đầu làm là được rồi”. Qua sáng sớm hôm sau, sư Phổ Độ và cô Chơn đốt ba cây nhang, hướng vào hình nộm mặc đồ nói: “Nữ cô hồn! Ngươi ở đây tạo tội nghiệt, hại người, tội rất sâu, chúng ta thương xót cho ngươi, cho nên bây giờ tụng kinh, chú, niệm Thánh hiệu A Di Đà Phật bố thí cho ngươi, siêu độ cho ngươi thoát ra ba cõi, vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới, vĩnh viễn thoát khỏi cái đau khổ lớn của luân hồi sanh tử, đây mới là cứu cánh cho ngươi”. Nói xong, liền tụng một quyển Kinh A Di Đà, chú vãng sanh, chú đại bi, Bát nhã Tâm kinh, v.v… lúc niệm lại Thánh hiệu A Di Đà Phật, thuận tiện liền mở hình nộm xuống, tháo bung hết toàn thân, lấy lửa đốt, trong khoảnh khắc biến thành một đống tro. Cuối cùng lại hồi hướng rằng: “Nguyện công đức thù thắng của kinh chú này hồi hướng cho cô hồn được siêu thăng”. Tiếp theo quét đống tro đó xuống khe nước lớn, nước cuốn trôi đi. Từ đó những người dân nam nữ già trẻ trong thôn Đồng Lâm này đã biết được điều hay tốt của việc niệm Nam mô A Di Đà Phật, có rất nhiều người phát tâm quy y theo Phật.

  25. 73. TÁC GIẢ CỦA SÁCH NÀY NIỆM PHẬT VÃNG SANH TÂY PHƯƠNG TRUYỆN KÝ CỦA LÃO CƯ SĨ LÂM KHÁN TRỊ VÃNG SANH

    Kẻ hậu học Tây Liên hết lòng thành kính ghi lại. Thơ của Tuyết Lô lão nhân (Lý Bính Nam) tặng cư sĩ Lâm Khán Trị:

    Dịch âm:

    Kim trì hạn đàm tứ biên khai
    Hỷ thị Lâm quân thứ đệ tài
    Thỉ tín Tây phương chư thượng thiện
    Chơn năng thừa nguyện hóa thân lai.

    Dịch giả tạm dịch:

    Ao báu sen vàng rộ nở hoa
    Đón mừng Khán Trị trở về nhà
    Đồng hàng Bồ Tát ngôi thượng phẩm
    Thừa nguyện hóa thân lại Ta bà.

    Đại sư Ngẫu Ích nói: “Chư Phật vốn vì thương xót quần mê, tùy cơ ứng hóa, dầu là quy nguyên vô nhị, mà phương tiện thì có nhiều môn. Nhưng trong tất cả muôn phương tiện, muốn cầu môn phương tiện thẳng tắt nhất, viên đốn nhất, thì không gì bằng môn niệm Phật cầu sanh Tịnh độ. Lại ở trong tất cả pháp môn niệm Phật, muốn cầu môn giản dị, ổn đáng nhất, thì không gì bằng môn TÍN, NGUYỆN, CHUYÊN TRÌ DANH HIỆU. Pháp môn Tịnh độ, lợi ích sâu rộng, từ khi đại pháp (pháp Phật) ở phương Tây (Tây vực: Ấn Độ) truyền đến phương Đông này, đem những hàng phàm phu trơn (chỉ hạng người rất tầm thường) nương vào tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây phương, nhờ đó ra khỏi được cuộc đời ngũ trược mà lên được cửu phẩm liên hoa, nhiều không thể tính đếm. Trong đó có lão cư sĩ Lâm Khán Trị, vị liên hữu ở liên xã Đài Trung, tín nguyện kiên cố thật tâm niệm Phật, vào ngày 15 tháng 4 năm Dân quốc thứ 81 (13 tháng 3 năm Nhâm Thân ÂL) biết cả giờ đi, chánh niệm rõ ràng, vãng sanh nhẹ nhàng tốt đẹp, hưởng thọ được tám mươi sáu tuổi. Nay xin kính thuật lại sự tích vãng sanh của bà để lợi ích cho người có duyên, thấy người giỏi, suy nghĩ cố gắng sao cho bằng, đồng niệm A Di Đà, đồng sanh An Dưỡng, và cầu nguyện Lâm lão cư sĩ, sớm thừa nguyện trở lại, quảng độ chúng sanh mãn Bồ Đề nguyện.

    Lão cư sĩ Lâm Khán Trị sinh tại trấn Lộc Cảng, huyện Chương Hóa, tỉnh Đài Loan vào ngày mùng 7 tháng 3, năm năm trước Dân quốc, tức năm 1906 (1911 – 5 = 1906) nhằm ngày 18 tháng 2 năm Đinh Mùi ÂL, cha là Lâm Luyện Công, mẹ họ Thái, thuộc gia đình có danh vọng, đáng tiếc cho Lâm lão cư sĩ tuổi nhỏ đã mất cha, kế tiếp lại mất mẹ, nếm đủ cái khổ vô thường của thế gian. Lâm lão cư sĩ từ lúc vỡ lòng ở tư thục đã có tâm ham học không biết mệt, học thuộc Tứ Thư Ngũ Kinh, nhờ đó mà đạt được nền móng tốt đẹp của Hán học, đối với việc học Phật sau này rất có ích.

    Lâm lão cư sĩ căn lành đời trước sâu dày, năm 35 tuổi nghe được một cao tăng ở Đài Loan là pháp sư Bân Tông tuyên giảng Phật pháp, thể hội được cái khổ của luân hồi lục đạo, liền phát tâm học Phật, ăn chay, và bà đã từng quy y với pháp sư Vô Thượng, được pháp danh là Pháp Viên. Năm Dân Quốc thứ 38, nhờ lão cư sĩ Lại Luyện Lương giới thiệu được học với ân sư Tuyết Lô Lý Bính Nam, được ân sư ban cho tên tự là Huệ Trị, mùa đông năm Dân quốc thứ 41 vâng mệnh ân sư tham gia lần truyền giới đầu tiên kể từ sau khi Đài Loan được khôi phục ở chùa Đại Tiên ở Đài Nam, cầu thọ tại gia Bồ Tát giới với lão hòa thượng Khai Tham làm vị Ưu Bà Di Bồ Tát giới trọn đời. Từ đó thường đi theo thầy rộng kết pháp duyên, đến khắp nơi trong toàn tỉnh tuyên dương pháp môn Tịnh độ, phụ tá trợ giúp ân sư tạo dựng những đạo tràng hoằng pháp lợi sanh như liên xã của Phật giáo ở Đài Trung v.v… và do được nhiều người trọng vọng nên bà được suy cử làm hội trưởng Liên nghị của mấy chục ban niệm Phật (Hội liên nghị: liên kết hữu nghị giữa các ban), bà được hầu hết các liên hữu đều quen biết.

    Điều may mắn tốt đẹp nhứt trong đời của Lâm lão cư sĩ là gặp được ân sư Tuyết Công, người bà luôn rất cung kính nhắc đến, người đã chỉ dạy cho bà pháp môn Tịnh độ. Bà thường tự than là phàm phu nghiệp chướng không thể nương nhờ được nguyện lực rộng lớn của Phật A Di Đà, quyết là khó trong đời này ra khỏi được luân hồi, cho nên đối với ân sâu nuôi lớn huệ mạng của ân sư, luôn ghi khắc trong lòng, xem ân sư như cha lành, thường nhắc đến lời dạy của ân sư: “Người tu theo Tịnh độ, quan trọng nơi thực tiễn, nếu như tu mà không có niệm Phật thì cũng đồng với nói ăn (không no được), đếm tiền (tiền của người ta), không có sự lợi ích thiết thật, nói một trượng vẫn không bằng làm một tấc”. Hằng lấy đây tự sách tấn và khuyên người. Và lấy lời dạy của ân sư: “Đạo tràng là nơi thành tựu đạo nghiệp cho chúng sanh” để thường tự nhắc nhở, bà chỉ biết lo dứ tác làm lành, không tham danh lợi, thật tâm niệm Phật, ngay đời này thành tựu được đạo nghiệp mới đủ để trên đền bốn ân nặng, dưới cứu ba đường khổ, cũng là không uổng công một đời học Phật của mình.

    Lâm lão cư sĩ do vì đầy đủ cả nền tảng Phật và Nho, cho nên ngài Tuyết Công gởi gắm hy vọng rất nhiều vào bà, trông mong có thể cùng nắm tay hoằng dương pháp môn Tịnh độ thù thắng, do đó mà cố gắng dạy và giao cho nhiều trách nhiệm quan trọng hơn. Ngài Tuyết Công dạy: “Một kinh thông rồi các kinh đều thông”. Trước khi học giảng phải có sự chuẩn bị dồi dào đầy đủ (hiểu rõ giáo lý cơ bản) trước khi giảng, tự viết bài nháp, những điều nói ra phải có căn cứ, nên theo các bản các Tổ đã chú giải, không được nói bừa bãi ý riêng của mình, nên theo khuôn phép của việc học giảng, phải rất cẩn thận và có tinh thần trách nhiệm, mới không trái với nhân quả. Lâm lão cư sĩ phát tâm học giảng “Kinh Phật thuyết A Di Đà”. Tuyết Công đề cập kinh này là kinh sâu nhất, khó giảng nhất, có được danh xưng tốt là “Kinh Hoa Nghiêm tiểu bản”. Lâm lão cư sĩ từng có lần đang lúc học giảng có chỗ lệch lạc, lúc đó Tuyết Công ân sư quát cho một tiếng và thuận tay lấy cây quạt xếp ở trong tay gõ lên đỉnh đầu một cái, lúc đó Lâm lão cư sĩ xấu hổ đến nước mắt chảy dài, do đó mà cố công học tập. Qua mấy ngày sau cuối cùng bỗng nhiên hiểu rõ cái đoạn kinh văn khó hiểu kia, các vị liên hữu cười nói: “Đây là ân sư giúp cho chị tiêu nghiệp chướng, khai phát trí huệ đó!”. Lâm lão cư sĩ thì càng cảm nhận sự quan trọng của việc học Phật ắt phải có sự truyền thừa của thầy.

    Lâm lão cư sĩ nhờ được sự chăm sóc dạy bảo nghiêm khắc của ân sư, hơn nữa tự bản thân có tâm từ bi tha thiết, thể hình cao lớn (thể lực tốt), âm thanh to rõ, biện tài vô ngại, cho nên từ năm Dân quốc thứ 40 lúc liên xã thành lập hai đoàn hoằng pháp của hai chúng nam và nữ, bà trở thành một nữ kiện tướng hoằng pháp khéo giỏi thuyết pháp độ chúng. Lúc bà thuyết pháp, nắm chắc và chú trọng về nhân quả và hai nguyên tắc lớn về lợi ích của niệm Phật, không nói những lời huyền hoặc, lạ kỳ, chú trọng vào việc làm thực tế và sự hành trì chân thật. Mặc dù vì chúng sanh căn tánh không đồng, cho nên rộng thuyết các kinh pháp, nhưng nhứt định tuân theo lời dạy của thầy, các chỗ giảng dạy đều quy nạp về Tịnh độ để hiển bày cái chỗ thù thắng của pháp môn niệm Phật, nhưng chúng sanh chủng loại muôn ngàn sai khác, trên đường thuyết pháp cũng có khi gặp phải những nhà chuyên môn (các tông phái khác) đến vấn nạn. Như có một lần nọ lúc thuyết pháp ở Ngọc Lý, có một người không tin Tịnh độ đến vặn hỏi rằng: “Bà nói người niệm Phật sau khi mạng chung, thì thần thức vãng sanh Tây phương, thần thức hình dạng ra sao đem đây cho tôi xem!”. Bà đáp: “Những lời ông vừa nói đó, hình dạng ra sao đem đây cho tôi xem!”. Người kia ngậm miệng không nói được, bà lại đáp thêm: “Nói cho rõ một chút, như ban đêm ông nằm mộng thấy cái này cái kia, đó là thần thức vậy”. Người kia do đó mà trở lại phát tâm dẫn người đến nghe pháp, những việc độ người học Phật giống như thế, được nghe nói luôn”.

    Lâm lão cư sĩ thường đề xướng kiến lập “Phật hóa gia đình” (cả gia đình đều theo Phật, học Phật – lời dịch giả) nghĩa là cư sĩ tại gia đã có gia quyến nên phải cảm hóa cả nhà cùng học Phật để giảm bớt chướng ngại của học Phật và vãng sanh. Điều bà vui thích nhất là khi có liên hữu nào khuyên được song thân niệm Phật thành tựu cho song thân vãng sanh Tây phương, bà khen điều đại hiếu rất mực của con người là ở chỗ này (có thể làm được như thế). Lâm lão cư sĩ khéo nói những lời tốt đẹp thường vào những dịp hôn lễ theo đạo Phật của các liên hữu, bà chúc cho gia đình sẽ thành Phật hóa gia đình. Bà nói “Phật hóa gia đình là nguồn động lực để xã hội được an định”. Lâm lão cư sĩ trong việc hoằng pháp cũng đặc biệt quan tâm đến đạo nghiệp của các liên hữu và gia quyến, từ mùa Xuân năm Dân quốc thứ 44, bà cúng ngôi nhà của mình để thiết lập cơ sở hoằng pháp và nhờ ân sư đặt tên là cơ sở hoằng pháp Luân Tự. Đó là cơ sở hoằng pháp sáng lập đầu tiên của Liên xã, Lâm lão cư sĩ tự đảm nhiệm làm chủ giảng, lãnh chúng niệm Phật và nghiên cứu Phật pháp. Mãi đến trước khi vãng sanh, hơn ba mươi năm thuyết pháp không ngớt, các liên hữu, những bà con hàng xóm, con cháu quyến thuộc… được nhờ lợi ích không ít. Lâm lão cư sĩ từ năm Dân quốc thứ 25, kết hôn với lão sư sĩ Lý Cư, vợ chồng rất tôn trọng kính nhường nhau, năm năm mươi lăm tuổi có được ba con vừa trai vừa gái, cháu chắt có hơn ba mươi người, cả nhà tài giỏi, thành đạt, an vui, xứng đáng làm điển hình cho “Phật hóa gia đình”. Những công đức về ngôn giáo và thân giáo của Lâm lão cư sĩ không thể kể hết. Vào tháng 2 năm Dân quốc thứ 80, ông Lý chồng của bà mệnh chung an lành và tốt đẹp tại nhà cao, thọ chín mươi lăm tuổi, toàn thể con cháu hết sức vâng lời của Lâm lão cư sĩ y theo Phật dạy như pháp trợ niệm và tiết kiệm, xử lý tốt những việc còn lại, bà con hàng xóm và các liên hữu đều kính phục vô cùng.

    Lâm lão cư sĩ ngoài việc tự tu và hóa độ người, lại còn có quyển “Những Truyện Niệm Phật Cảm Ứng Mắt Thấy Tai Nghe” mà bà đã thâu thập ghi chép rất cần mẫn không mệt mỏi, được nhờ ân sư Tuyết Công viết chữ kỷ niệm và ban cho lời tựa (lời đầu sách), từ tháng 8 Dân quốc thứ 58, xuất bản lần đầu là 5.100 quyển, đến trước khi vãng sanh, tổng cộng xuất bản 56 lần, số sách hơn trăm ngàn quyển, còn các nơi khác ấn hành kết duyên cũng không tính đếm được, nội dung trong sách này cũng có được mấy truyện được sát nhập vào quyển “Tịnh độ Thánh hiền lục”, đồng thời có người nương theo nội dung sách này mà chế tác ra băng cát-sét và phát thanh trên đài truyền thanh, có thể nói là rộng kết nhân duyên với Tây phương được hàng vạn người và những người đọc sách này mà phát tâm niệm Phật cũng nghe thấy rất nhiều, thậm chí có người ở ngoài nước xa xôi cũng nhân xem đọc sách này mà riêng đến Đài Loan cầu kiến sách này cảm hóa người rất sâu, từ đây mà ta có thể thấy một phần, những sách còn lại của bà để lại còn có: “Phật thuyết A Di Đà Kinh Khẩn thuyết”, “Khuyến tu niệm Phật pháp môn thiển giảng”, v.v…

    Lâm lão cư sĩ nhiều năm kinh nghiệm tu hành, bà cho là người có thể biết niệm Phật cầu sanh Tây phương, đó là căn lành phước báo lớn nhất trong đời người, bà thường nói: “Tu hành không có tu gì khác, chỉ cần biết được mối đường, nếu biết được mối đường thì việc sanh tử đồng thời dứt”. Và thường tán thán: “Pháp môn niệm Phật là vô thượng chí bảo”. Lão cư sĩ sớm đã tùy duyên thuyết pháp độ chúng, tuổi già càng thêm gắng sức công phu niệm Phật, tự nói tu hành nên nhân lúc trẻ, tự biết mình lúc tuổi trẻ may mắn nhờ ân sư chỉ đạo, đặt được nền móng niệm Phật, nếu không thì tuổi tác ngày càng cao, thể lực suy yếu dần, sẽ hay có cảm giác lực bất tòng tâm. Bà lại khuyên những người già càng nên gấp rút niệm Phật, cầu sanh Tây phương, nếu không thì số ngày còn lại không nhiều, nếu vô thường chợt đến thì là bỏ lỡ việc lớn vãng sanh, quả báo sau này không thể lường được!…

    Lâm lão cư sĩ thường ở hộ trì tại Liên xã hơn bốn mươi năm, trong thời gian dài huân tập ở các hội giảng kinh thuyết pháp Phật và Nho, bà càng thể hội được sự quan trọng của hành giải tương ưng (hiểu biết và thực hành đi đôi – dịch giả chú), đến hai năm trước khi vãng sanh, thời khóa hàng ngày của bà đã sáu vạn câu Phật hiệu mỗi ngày, lúc tự tu, hai mắt khép lại, tay cầm chuỗi, tác kim cang niệm, lúc cùng tu thì niệm Phật ra tiếng theo chúng, gần như ngoài lúc ăn, ngủ ra, trọn ngày đều tắm gội trong danh hiệu Phật. Lâm lão cư sĩ thọ trì giới “không nói lỗi của tứ chúng”, bà cho rằng “Hòa là quý”, gặp việc nghịch ý phật lòng, đều là nghiệp chướng hiện tiền, càng phải niệm Phật mạnh hơn, cầu Phật gia bị. Bà thích nhất câu nói này của Ấn Quang tổ sư: “Phải nên phát nguyện nguyện vãng sanh, du sơn ngoạn thủy mặc người tham, Tịnh độ Cực lạc tự do mình không chịu về, nếu muốn về liền được, trăng gió của quê mình có ai tranh!”. (nguyên âm chữ Hán bài kệ này: “Ưng đương phát nguyện nguyện vãng sanh. khách lộ khê sơn nhậm bỉ luyến. Tự trị bất quy, quy tiện đắc. Cố hương phong nguyệt hữu thùy tranh”). Bà đặc biệt đặt bài kệ này ở đầu án thư để nhắc nhở mình, là làm khách ở Ta Bà, Cực lạc mới là quê hương. Và ở liêu phòng của bà, bốn vách chung quanh không có gì, chỉ có đặt bản viết của ẤÂn Quang đại sư đã viết: “Nhất tâm niệm Phật” để sách lệ tự thân tinh tấn niệm Phật, và bà đã hiểu sâu sắc câu nói của ân sư Tuyết Công trước khi vãng sanh đã nhiều lần nhắc nhở: “Ít nói một câu chuyện. Nhiều niệm một câu Phật. Đánh chết được vọng niệm. Pháp thân ngươi hiển lộ”. Thật là một minh chứng tu hành ở hoàn cảnh ác liệt trong thời mạt pháp này!

    Lâm lão cư sĩ vào năm 60 tuổi đã chuẩn bị xong những công việc sau khi mất. Hai năm trước khi vãng sanh lại dặn dò các việc phải chú ý lúc lâm chung, một tuần lễ trước lúc vãng sanh liền hướng vào các liên hữu nói: “Tôi sắp về nhà rồi”. Lại liên tục khen rằng: “Thật sự là có thế giới Cực Lạc”. Hai ngày trước lúc vãng sanh, tự biết sức khỏe đã suy yếu, do con cháu thỉnh về nhà, các liên hữu và quyến thuộc niệm Phật đưa bà cùng về nhà. Sau giờ ngọ một ngày trước khi vãng sanh, bà nói với các liên hữu: “Đã thấy Phật A Di Đà, chắc chắn được nhờ Phật tiếp dẫn vãng sanh”. Cuối cùng, 7 giờ 20 phút sáng ngày hôm sau, ở tại nhà một mình, trong tiếng trợ niệm “A Di Đà Phật” của các liên hữu và quyến thuộc, bà chánh niệm rõ ràng, trong khoảnh khắc bà quy Tây một cách nhẹ nhàng và tốt đẹp, đến sau khi vãng sanh hai mươi bốn giờ, trong thời gian đó tiếng niệm Phật không ngớt, lúc thay y phục ai nấy đều rất vui nhìn thấy mặt mày bà tươi vui cũng như dung mạo hiền lành lúc còn sống, những người thấy nghe khen ngợi mãi, chúc mừng bà đã được như nguyện vãng sanh Cực Lạc. Lâm lão cư sĩ vào ngày 26 tháng 4 năm Dân quốc thứ 81 được cử hành lễ cáo biệt và trà tỳ, các liên hữu hẹn nhau đến niệm Phật đông đến đường sá bị tắt nghẽn, đủ thấy sự tu trì lúc bình thời của bà công phu không có uổng, sức cảm hóa người rất sâu. Sau khi hỏa táng lại được mấy trăm viên xá lợi. Đây cũng hiển lộ cho thấy công phu niệm Phật của bà rất sâu dầy, nhân quả không sai!

    Đại sư Thiện Đạo nói: “Nếu luận về học hiểu, thì tất cả pháp môn đều phải học, nếu luận về tu trì, nên chọn lựa pháp khế lý, khế cơ, mới có lợi ích chân thật”. Một pháp niệm Phật nhân gồm quả hải, quả suốt nguồn nhân là khế lý khế cơ nhất, thật là bản hoài của Đức Thế Tôn xuất thế độ sanh khiến tất cả đều có thể ngay đời này dứt được sanh tử. Chúng ta từ sự tích thành kính niệm Phật của Lâm lão cư sĩ cuối cùng được vãng sanh Cực Lạc mà nghiệm ra, tin mà có chứng cứ. Khắp nguyện những ai thấy nghe rõ chân thật niệm Phật, đồng sanh Cực Lạc, đồng thành chánh giác, thì may mắn lắm vậy! Và Lâm lão cư sĩ với thân nữ tại gia lại được sự tự độ và độ người mấy mươi năm, cuối cùng vãng sanh Liên Bang một cách nhẹ nhàng và tốt đẹp. Đây cũng đồng với hai câu: “Thỉ tín Tây phương chư thượng thiện. Chơn năng thừa nguyện hóa thân lai” của Tuyết Lô lão nhân vậy! (xem bài thơ ở đầu bài này).

    ________ ——— ========= HẾT ========= ——— _________

Đã đóng bình luận.